“Ông nước sạch”
Các Website khác - 13/10/2005

Họ xuất thân là nông dân, chưa qua những trường lớp chuyên môn. Nhưng cứ làm rồi nghề dạy nghề, tự học hỏi và biết nghe dân nói, dần dần họ trở thành những ông chủ cung cấp nước sạch khá ưng ý cho dân vùng Đồng Tháp Mười.

Dọn cơm sẵn lên bàn

Soạn: AM 583559 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Anh Nguyễn Quốc Thái

Dáng người thấp đậm, lưng hơi gù, Nguyễn Quốc Thái có dáng dấp của một nông dân hơn là ông chủ cấp nước. Suốt ngày anh ở bên công trình để kiểm tra hệ thống ống nước coi chỗ nào rò rỉ, bể ống là sửa chữa ngay. Nơi nào cúp nước, dân báo là anh có mặt liền, dù ở cách xa hàng chục cây số.

Thái bộc bạch: “Dân ở quê bây giờ ý thức xài nước sạch cao lắm. Xung quanh mênh mông nước nhưng bà con xài nước sạch chứ không xuống kênh rạch như trước nữa. Vì vậy cúp nước một ngày là muốn... nổi điên, giống như ở thành phố vậy”.

Năm 1999, học xong cấp II Thái đi làm nghề khoan giếng mướn. Những năm đó giếng khoan chỉ sâu chừng 100-120m, thợ khoan bằng thủ công, cứ dựng giàn khoan dã chiến lên rồi cặp mũi khoan đi vòng tròn quanh miệng giếng, cho tới lúc đạt độ sâu cần thiết thì thôi.

Ông Lê Văn Tư, giám đốc Trung tâm Nước sinh hoạt & vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Đồng Tháp, cho biết từ năm 2000 đến nay đã có 237 trạm nước sạch đưa vào sử dụng tại các vùng nông thôn, trong đó có 106 cụm, tuyến dân cư.

Tư nhân được giao trách nhiệm gắn với quyền lợi nên họ hạch toán kinh doanh và phục vụ dân rất hiệu quả. Hiện nay toàn tỉnh có 15 tư nhân đầu tư theo phương thức có vốn hỗ trợ của Nhà nước, 11 tư nhân tự đầu tư 100% vốn.

Mỗi ông quản lý 7-10 trạm nước sạch, rất hiệu quả, bà con mê dữ lắm. Cứ sáu tháng mỗi người mang mẫu nước về tỉnh kiểm định một lần. Nước đảm bảo tiêu chuẩn sinh hoạt thì đưa vào sử dụng.

Thợ tiếp tục nối ống lên mặt đất, lắp trụ bơm bằng tay, vậy là xong một cái giếng. Sau đó, Thái nghĩ làm vậy cực quá, công suất chẳng bao nhiêu, chất lượng nước kém, trong khi nhu cầu dùng nước sạch của bà con vùng này còn rất lớn, Thái quyết định chuyển hướng làm ăn.

Năm 2000, nhân lúc tỉnh có chủ trương khuyến khích tư nhân đầu tư cung cấp nước sạch vùng nông thôn, Thái vay vốn mở cơ sở làm ngay. Anh sang nhượng lại một trạm cấp nước không hiệu quả của một tư nhân ở ấp 5, xã Đốc Binh Kiều (huyện Tháp Mười, Đồng Tháp), rồi bỏ thêm 88 triệu đồng cải tạo, kéo ống nước tới tận nhà dân.

Thời điểm này nhu cầu dùng nước sạch chưa cao, bà con còn dửng dưng dù “cơm đã đem tới trước cửa nhà”. Thái quyết định “dọn cơm sẵn lên bàn” luôn bằng cách kéo ống vô tận nhà, lắp sẵn đồng hồ nước, mở nước chảy tới tận lu cho bà con thấy.

Tiền bạc tính sau, cứ xài nước trước cho sướng cái đã. Sống ở vùng này, Thái biết rõ nông dân thường tới mùa lúa mới có tiền, anh cứ thủng thẳng chờ. Bà con cũng cứ trả góp bằng lúa, xong vụ đông xuân rồi tới hè thu, cứ vậy mà dần dần Thái thu hồi được vốn.

Hai năm sau, cả ấp 5 này có 96 hộ dân dùng nước sạch. Chú Trần Văn Sáu, một nông dân ở ấp, tỏ vẻ phấn khởi: “Bây giờ có nước sạch rồi tụi tui hết lo bị bệnh đường ruột. Còn tắm thì không lo bị ngứa ngáy như hồi còn xài nước sông rạch. Dạo này thuốc trừ sâu, rơm rác, xác súc vật chết... cái gì cũng đổ xuống sông hết, ô nhiễm quá trời”.

Soạn: AM 583563 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Trạm nước sạch cụm dân cư xã Tân Kiều do anh Thái quản lý và phục vụ

Cùng lúc này các cụm, tuyến dân cư bắt đầu thu hút dân nghèo vô ở, các trạm cấp nước được Nhà nước đầu tư phần giếng, bồn và đài nước, phần còn lại kéo vô nhà dân được kêu gọi dân đầu tư. Thái xin vô liền.

Anh lo phần kéo ống từ trạm tới các hộ dân và lắp luôn đồng hồ nước. Hôm tôi tìm anh, Thái vừa làm xong đường ống cho cụm dân cư xã Tân Kiều (huyện Tháp Mười), cung cấp nước cho 200 hộ dân.

Trước đó, anh cũng đã hoàn thành lắp đặt đường ống cho cụm dân cư xã Hưng Thạnh, Mỹ An, Mỹ Hòa với 175-300 hộ dân/cụm. Hiện Thái đang phục vụ nước sạch cho trên 1.200 hộ dân trong vùng.

Anh cho biết: “Nghề này đòi hỏi phải công phu lắm. Cả ngày ở ngoài đường “canh me” có ai đào đường không để dời ống nước mà “né”. Khổ lắm, hôm trước có ông giao thông mở rộng con lộ, mình phải bám theo ổng, mở tới đâu dời ống tới đó.

Có lúc phải dời cả 2km đường ống mà chẳng được bù lỗ đồng nào. Mỗi lần như vậy tốn 20-30 triệu đồng, cũng đành chịu để có nước cho dân xài”.  

Chủ, lính là một

Về cụm dân cư xã Phú Điền (huyện Tháp Mười), điều đầu tiên ai cũng thấy ngay là trạm cấp nước cao vòi vọi giữa bầu trời. Đó là công trình hợp tác giữa Nhà nước và ông Ba Long (Đinh Hoàng Long).

Anh Lê Văn Đựng, cán bộ văn phòng UBND xã Phú Điền, cho biết xã giao giếng và đài nước, ông Ba Long đầu tư thêm tiền kéo ống, đồng hồ nước vô nhà dân. Hộ nghèo trong cụm dân cư đóng 315.000đ, trả bằng lúa khi tới mùa, hộ buôn bán ở chợ đóng 600.000đ.

Ông Long cứ thu tiền nước 2.000đ/m3, nộp cho xã 10%, sau 15 năm trả lại cho Nhà nước. Ông Ba Long đang quản lý và phục vụ ba trạm cấp nước: cụm dân cư ấp Mỹ Thạnh, chợ Phú Điền và Kinh Ba (ấp Mỹ Điền).

Ông Ba Long vốn cũng là một nông dân nòi. Vừa làm ruộng, ông vừa kiêm thêm nghề xây dựng nhà ở nông thôn. Năm 1998, được UNICEF tài trợ, xã có được trạm cấp nước sâu 390m.

Nhưng có nước mà không có đường ống, nước cứ luẩn quẩn ở quanh giếng mà không về được nhà dân. Ông Long xung phong bỏ 450 triệu đồng kéo ống về từng hộ. Những năm làm nghề xây nhà cho ông nhiều kinh nghiệm trong đi đường ống.

Ở nông thôn ao đìa nhiều, vườn cây rậm rạp, ông phải đi ống len lỏi trong đó vừa bền chắc, an toàn vừa tiết kiệm. Xong rồi lại phải đánh dấu thật kỹ để bà con có làm hàng rào, trồng cây chuối, cổng đám cưới... thì biết mà tránh.

“Ăn thua mình biết cách xử sự với dân là họ giúp nhiều thứ lắm - ông Long bộc bạch - Tính tiền phải chính xác, ăn nói phải lễ độ, tiền trả chậm vài bữa chẳng sao, có khi để tới mùa lúa trả luôn”.

Điều ông Long lo nhất là khi xảy ra sự cố như ống bể, cháy môtơ thì nước bị cúp. Mà nghề cung cấp nước “chua” ở chỗ nước cúp là bị dân chửi te tua.

Có lần dân kêu bể ống nước ở khu vực chợ, ông chạy kêu thợ giáp xóm chẳng có ai, quanh đi quẩn lại chỉ thấy người em trong nhà. Vậy là hai anh em hì hục đào đất, anh vừa chỉ huy vừa nhảy xuống móc đất nối ống, vừa làm chủ vừa... làm lính luôn.

Có bữa trời mưa mà ống nước bể, ông Long cũng phải hì hục sửa chữa tới tối. Mình mẩy bê bết bùn đất, ướt như chuột lột. Để bảo đảm nước không bị cúp đột ngột, ông Long đầu tư luôn cả máy phát điện dự phòng. Vì vậy, dù ở nông thôn điện cúp mà nước vẫn xài thoải mái.

Hiện nay do nhu cầu xây dựng cụm, tuyến dân cư càng nhiều, ông Long đang tiếp tục đầu tư hàng trăm triệu đồng dù biết trước sẽ rất chậm thu hồi vốn.

Ngoài ra, ở những vùng nông thôn sâu, xa chợ, dân cư thưa thớt, lượng nước sử dụng còn ít nên nguồn thu chưa cao, nhưng ông Long cũng ráng kéo dài ống vào để phục vụ.

“Dân vô đây đa số là nghèo, Nhà nước qui định thu mỗi hộ chỉ 250.000-300.000 đồng. Cả ngày chạy tới chạy lui ngoài đường, thu tiền nước mỗi tháng tính ra còn lời có 3-4 triệu đồng/hai anh em. Nhưng vì mê nghề quá nên phải ráng làm. Điều sướng nhất là tới nhà ai thấy họ có nước máy mở chảy ào ào cũng đủ mê rồi” - ông Long bộc bạch như vậy.

(Theo Tuổi Trẻ)