Quyết ở lại với Thủ đô giải phóng
Các Website khác - 10/10/2005
Đầu xuân Nhâm Dần-1962,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đến
nhà riêng chúc Tết Giáo sư
Đặng Văn Chung (người đeo
kính trắng) và gia đình.
Trong lịch sử mỗi dân tộc cũng như cuộc đời mỗi người có những thời điểm bước ngoặt, đòi hỏi phải quyết định mau lẹ, dứt khoát. Những ngày giữa thu năm 1954, khi Chính phủ kháng chiến sắp trở về tiếp quản Thủ đô, là một thời điểm như thế. Không thể chần chừ, chậm trễ, Giáo sư Đặng Văn Chung có băn khoăn, lo lắng nhưng cuối cùng đã quyết định ra sao?
Chiếc xe hơi xịch đỗ trước ngôi nhà ba tầng ở một ngõ vắng đầu phố Hai Bà Trưng, Hà Nội. Xuống xe, theo thói quen, bác sĩ Đặng Văn Chung tra chìa vào ổ khoá, mở hòm thư riêng ở cánh cổng sắt. Vừa bước lên thềm nhà, ông vừa đọc lướt qua những dòng chữ đề ngoài bì thư. Chắc là thư của một người bệnh vừa được ông chữa khỏi gửi đến cảm ơn hay của người quen, bè bạn nhờ giúp đỡ chuyện gì đây. Bỗng để ý đến một phong bì không dán tem – hẳn là người chuyển thư không gửi theo đường bưu điện mà bỏ thẳng vào hòm thư riêng này – ông bèn bóc ra xem.

Anh Chung thân mến,

Mấy năm qua ở ngoài này bọn tôi vẫn luôn hỏi thăm tin tức về anh. Được biết anh chị và các cháu vẫn mạnh khỏe, tôi mừng lắm. Xin báo để anh chị rõ: Cả nhà tôi đều khoẻ. Bọn tôi đang sửa soạn trở về Thủ đô.

Mong anh ở lại, cùng bè bạn chung lòng, chung sức xây dựng nền y học nước nhà.

Hẹn gặp lại anh tại Hà Nội.

Phải một lúc sau, bác sĩ Chung mới nhận ra chữ ký ở cuối thư. Đúng là chữ ký của một người bạn cũ: bác sĩ Tôn Thất Tùng.

Thời trẻ, hai người cùng học Trường Đại học Y Hà Nội. Tôn Thất Tùng sinh năm 1912 tại Thanh Hoá, nhưng thuở nhỏ sống ở Huế, năm 19 tuổi ra Hà Nội học Trường Bưởi. Đặng Văn Chung sinh năm 1910, quê ở Sa Đéc, học trung học tại Trường Chasseloup-Laubat, Sài Gòn. Rồi cả hai cùng vào Trường Thuốc, thi đỗ vào nội trú tại Bệnh viện Phủ Doãn và Bệnh viện Bạch Mai. Tôn Thất Tùng tốt nghiệp bác sĩ nội trú trước ông một khoá.

Cả một lớp bác sĩ y khoa thời ấy – những thanh niên đầy nhiệt huyết – như Đỗ Xuân Hợp, Tôn Thất Tùng, Vũ Văn Cẩn, Hoàng Đình Cầu, Nguyễn Trinh Cơ, Nguyễn Tấn Gi Trọng… sau “cái đêm mười chín”, đêm Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, đã nhẹ nhàng từ giã “Hà Nội vàng son” lên chiến khu Việt Bắc. Các anh tham gia Vệ quốc đoàn hay tập hợp lại chung quanh Giáo sư Hồ Đắc Di, người thầy thuốc lớp trước, mở Trường Đại học Y kháng chiến giữa rừng xanh Chiêm Hoá, Tuyên Quang.

Bác sĩ Đặng Văn Chung cũng đã từng lặn lội lên vùng ngòi Quẵng, Chiêm Hoá, giảng dạy tại Trường Y do “cụ Di” làm Hiệu trưởng. Nhưng, đến thu - đông 1947-1948, khi quân Pháp nhảy dù xuống Bắc Cạn, bao vây căn cứ địa Việt Bắc, trong tình thế cực kỳ nguy khốn, ông đành nhắm mắt quay trở về Hà Nội bị tạm chiếm! Năm 1952, ông sang Paris, thi lấy bằng thạc sĩ đại học (một học vị rất khó, khác với học vị master mà hiện nay ta cũng dịch là thạc sĩ). Bằng cấp có cao hơn, cuộc sống có ô-tô, nhà lầu nhưng sao trong lòng chẳng lúc nào được thảnh thơi.

Đêm hôm ấy, ông cởi mở tâm tình với vợ:

– Tôi đã quyết định ở lại Hà Nội! Dù khó khăn, vất vả đến đâu cũng ở lại! Mình thấy thế nào?

– Tôi sợ mình không chịu nổi. Vả chăng mình đã từng theo Cụ Hồ lên Việt Bắc, nhưng rồi lại quay trở về thành, chẳng biết người ta có còn tin dùng nữa hay không?

– Trong đời tôi đã một lần phạm sai lầm đau đớn! Giờ đây không thể phạm lần thứ hai! Bỏ lỡ thời cơ, rồi sẽ ân hận mãi… – Bác sĩ trầm ngâm một lát, rồi nói tiếp: – Ngày đầu cách mạng, tôi có nghe Cụ Hồ nói câu này: “Năm ngón tay có ngón dài, ngón ngắn. Nhưng dài ngắn đều hợp lại nơi bàn tay. Trong mấy chục triệu đồng bào cũng có người thế này, thế khác nhưng thế này, thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ…”. Tôi tin ở tấm lòng bao dung cao cả của Cụ cũng như cách nhìn thông cảm của các anh ngoài đó. Hôm nay tôi vừa nhận được thư của anh Tùng. Đây, mình xem…

Những ngày giữa thu năm 1954, nhiều gia đình giàu có ở Hà Nội và cả một số trí thức quen biết bác sĩ Đặng Văn Chung lần lượt lên đường vào nam. Để đánh lạc hướng những cặp mắt tò mò dò xét, bác sĩ cho đóng hòm áo quần, sách vở. Nhưng rồi một hôm ông được “mời” đến phủ thủ hiến cùng thạc sĩ Vũ Công Hoè và bác sĩ Võ Tấn. Một quan chức vào loại chóp bu của chính quyền Bảo Đại cố giữ vẻ lễ độ, nói với ba người:

- Nhà cửa dành cho các anh ở trong đó, quốc gia đã lo liệu tươm tất. Các anh nên sửa soạn nhanh nhanh lên một chút! Lúc nào xong, cho chúng tôi biết, sẽ có ngay vé máy bay. Có thể mang theo mỗi người sáu tạ hành lý!

Chắc họ đã biết ý định của ba người và “mời” lên cảnh cáo một cách “tế nhị”? Không hành động gấp, ắt sẽ gặp trắc trở. Ngay tối hôm đó, bác sĩ Chung tìm gặp bác sĩ Phạm Khắc Quảng, bàn cách lánh ra vùng tự do.

Hai hôm sau, trong một gian nhà tranh ở huyện Thường Tín, Hà Tây, bác sĩ Chung gặp lại Giáo sư Hồ Đắc Di vừa từ Việt Bắc trở về, chuẩn bị vào tiếp quản Thủ đô. Ôn lại những ngày gian nan “thương nhau chia củ sắn lùi/ Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng” bên con ngòi Quẵng ở Chiêm Hoá, Tuyên Quang, hai người ôm nhau khóc…


Ngày 10-10-1954, phố phường Hà Nội rợp cờ hoa đón chào đoàn quân chiến thắng trở về. Theo bước chân anh bộ đội Cụ Hồ đi giày vải, đội mũ nan, mặc quân phục màu lá rừng, bác sĩ Đặng Văn Chung quay trở lại ngôi nhà cũ nơi ngõ vắng đầu phố Hai Bà Trưng, cùng vợ con sum họp.

Trường Đại học Y Hà Nội khai giảng năm học đầu tiên sau giải phóng. Giáo sư Hồ Đắc Di, người Việt Nam duy nhất được Toàn quyền Đông Dương công nhận chức danh giáo sư đại học trước Cách mạng Tháng Tám, giữ chức Hiệu trưởng. Thạc sĩ y khoa Đặng Văn Chung được Nhà nước ta tin cậy bổ nhiệm vào chức vụ Phó hiệu trưởng. Và, cùng nhiều thầy thuốc danh tiếng khác như Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ, Trần Hữu Tước, Đặng Vũ Hỷ, Vũ Công Hoè…, ông được công nhận chức danh giáo sư đại học.

Sau cái hôm cùng ông được “mời” lên phủ thủ hiến nguỵ quyền, thạc sĩ Vũ Công Hoè và bác sĩ Võ Tấn cũng đã theo một đường dây bí mật khác lánh ra vùng tự do, và bây giờ, cùng trở về giảng dạy tại Trường Y.

Vừa giảng dạy tại trường, vừa chủ trì điều trị nội khoa tại Bệnh viện Bạch Mai, vừa trực tiếp tự mình nghiên cứu cũng như hướng dẫn các đồng nghiệp trẻ nghiên cứu khoa học, Giáo sư Chung hết sức bận rộn, hầu như không có ngày nghỉ. Với vốn tri thức y học sâu rộng và kinh nghiệm điều trị vô cùng phong phú, ông đã phát hiện lần đầu tiên ở Đông Dương nhiều chứng bệnh như: bệnh hạ đường trong máu do có khối u ở tuỵ, bệnh gút (goutte), bệnh u ở tuyến thượng thận (pheochromocytome), bệnh Xếch-ken (Seckel), bệnh mất mạch (tức bệnh Tokoyashu, mang tên nhà y học Nhật Bản tìm ra bệnh này), v.v.

Nhiều nhà y học danh tiếng của Liên Xô, Pháp, Hungary… đến thăm Bệnh viện Bạch Mai, làm việc với Giáo sư Đặng Văn Chung. Trước khi về nước, ai cũng nói lên cảm tưởng tốt đẹp của mình đối với nền y học Việt Nam và đánh giá cao tầm hiểu biết nội khoa của Giáo sư Chung.

Ngay từ những năm đầu sau giải phóng Thủ đô, Giáo sư đã bắt tay ngay vào việc biên soạn nhiều bộ giáo trình đại học như: Bệnh học nội khoa (hai tập), Điều trị học (hai tập). Hai bộ sách này được sửa chữa, bổ sung và in lại nhiều lần. Giáo sư còn chỉ đạo Bộ môn Nội Trường Đại học Y Hà Nội biên soạn cuốn Triệu chứng học nội khoa. Đó là những bộ giáo trình được giảng dạy tại nhiều trường đại học y trong cả nước ta.

Cùng với Giáo sư Trương Công Quyền, ông biên soạn cuốn Tra cứu y - dược. Ngoài ra, để phổ cập kiến thức y học, ông còn viết những cuốn Giải đáp về tim - mạch, Sức khỏe và bảo vệ sức khoẻ, v.v.

Theo Giáo sư Phạm Khuê thì hầu hết các thầy thuốc nội khoa ở nước ta đều là học trò trực tiếp hay gián tiếp của Giáo sư Đặng Văn Chung.

Trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của Johnson, rồi Nixon, cùng các đồng nghiệp ở Bệnh viện Bạch Mai, Giáo sư Chung trụ lại thành phố, chữa chạy cho những người bị bệnh nội khoa nguy kịch nếu chuyển đi xa có thể chết ngay trên đường, hay cấp cứu chiến thương cho một em bé bị bom vùi, một cụ già bị choáng sau trận bom Mỹ…

Còi báo động!

Từ phòng làm việc ở tầng hai, Giáo sư vịn lan can cầu thang chầm chậm bước xuống tầng một, rồi tầng hầm. Ông ngồi vào chiếc ghế đẩu đặt giữa hai dãy giường bệnh.

Bỗng có tiếng rú chói tai của máy bay phản lực. Tầng hầm rung lên dữ dội. Một luồng hơi cực mạnh xô ông ngã nhào. Quả bom nổ cách ông khoảng mười mét! Toà nhà trước mặt gãy đôi. Một anh y sĩ Khoa Lây, đứng cách chỗ ông mấy bước, nhô đầu lên ô cửa sổ thông hơi, bị mảnh bom bay từ ngoài vào phạt đứt ngang cổ.

Sau trận bom, trở lại phòng làm việc, Giáo sư đứng sững nhìn hàng trăm trang bản thảo vừa được sửa xong bay khắp bốn phương tám hướng, rơi lả tả xuống mảnh vườn hoa bệnh viện vừa bị bom cày xới.

Đêm 22-12-1972, siêu pháo đài bay B-52 ném bom trải thảm huỷ diệt Bệnh viện Bạch Mai. Toà nhà A9, toà nhà chính nhìn ra cổng bệnh viện, trúng bom đứt thành mấy khúc. Dãy nhà của Khoa Tai-Mũi-Họng và Khoa Da liễu nát vụn cả mấy tầng, từ móng đến mái...

Giáo sư Đặng Văn Chung gần kề bên cái chết, chỉ trong gang tấc!

Ông đã sống những ngày bi thương hùng tráng của Hà Nội ngang mày chọi với B-52. Không được cùng Giáo sư Tôn Thất Tùng cấp cứu chiến thương trong hầm mổ ở thung lũng Mường Phăng, Điện Biên Phủ năm nào, nhưng giờ đây, ông được cùng người bạn ấy dự trận “Điện Biên Phủ trên không” giữa “thủ đô của lương tâm và phẩm giá loài người”…

Năm tháng sẽ qua đi nhưng những đóng góp của người trí thức hết lòng gắn bó với Hà Nội trong những ngày ngút trời khói lửa ấy lẽ nào bị hậu thế lãng quên? Không, Nhà nước ta đã tặng ông nhiều huân chương cao quý và Giải thưởng Hồ Chí Minh về y học…

HÀM CHÂU