Bỏ tu chính án Byrd vẫn phải thận trọng
Các Website khác - 30/12/2005

Theo Luật sư Đinh Ánh Tuyết của Hãng luật Vilaf Hồng Đức, việc Mỹ bãi bỏ Tu chính án Byrd chỉ làm giảm động cơ cho bên đi kiện chống bán phá giá chứ không có nghĩa sẽ không còn các vụ kiện. Do vậy, doanh nghiệp VN vẫn phải giám sát chặt chẽ quá trình xuất khẩu hàng hóa vào thị trường này.

Luật sư Đinh Ánh Tuyết. (Ảnh do luật sư cung cấp)

- Bà nhìn nhận việc Thượng nghị viện Mỹ quyết định xóa bỏ Tu chính án Byrd như thế nào?

- Đây là một động thái tích cực của Quốc hội Mỹ vì họ đã "dũng cảm" bỏ đi một đạo luật tạo động cơ không lành mạnh cho các vụ kiện chống phá giá và trợ giá của các doanh nghiệp Mỹ. Ở đây cần để từ "dũng cảm" vì kể từ khi Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) yêu cầu Mỹ bỏ đạo luật này vào năm 2002, Quốc hội Mỹ đã phải mất rất nhiều thời gian mới thông qua được việc bãi bỏ.

Việc xoá bỏ Tu chính án Byrd cũng có nghĩa là triệt tiêu được động cơ khởi động các vụ kiện chống phá giá, chống trợ cấp của một số doanh nghiệp Mỹ. Đồng thời, cũng xoá bỏ tình trạng các doanh nghiệp nước ngoài, người tiêu dùng Mỹ phải trả gián tiếp trợ cấp cho một số doanh nghiệp yếu kém của nước này.

Thực tế là trong một thời gian dài, Tu chính án đã đem lại khoản thu nhập lên tới hàng chục triệu USD/năm cho các công ty khởi kiện, góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy các vụ kiện chống phá giá. Chẳng hạn như vụ kiện tôm mới đây, theo ước tính của hãng luật Willkie Farr & Gallagher, chỉ riêng tiền thuế chống phá giá mà các doanh nghiệp tôm của 6 nước bị áp thuế, trong đó có VN, phải nộp trong 1 năm đã lên tới khoảng 150 triệu USD. Khoản tiền này sẽ được phân phối lại cho các nguyên đơn là các nhà đánh bắt tôm tại Mỹ

- Theo bà, Tu chính án được xóa bỏ sẽ có tác động như thế nào đến các nước có quan hệ làm ăn với Mỹ nói chung và VN nói riêng?

- Tu chính án Byrd sẽ làm giảm những vụ kiện có động cơ hưởng tiền thuế của một số doanh nghiệp Mỹ. Theo tôi, việc này sẽ giúp các nước và doanh nhiệp làm ăn với Mỹ được cạnh tranh bình đẳng hơn trên thị trường rộng lớn này. Nó cũng thể hiện sự thắng lợi của nguyên tắc tự do thương mại đối với chính sách bảo hộ. Hơn nữa, nó cũng sẽ các nước khác tránh đi theo con đường của Mỹ để tạo ra các rào cản tương tự nhằm bảo hộ quá mức những doanh nghiệp yếu kém, làm tổn hại đến người tiêu dùng và các doanh nghiệp có sức cạnh tranh cao.

Việc bãi bỏ Tu chính Án Byrd đánh mạnh vào động cơ chỉ muốn đi kiện nhằm hưởng các khoản tiền từ thuế chống phá giá. Bỏ Tu chính án, các doanh nghiệp nước ngoài như VN đỡ phải chịu những vụ kiện có động cơ vì tiền thuế trong tương lai.

Còn đối với các vụ kiện đã được tiến hành và đã có lệnh áp thuế còn hiệu lực trong nhiều năm thì ít nhất, do không được tiếp tục hưởng tiền từ thuế chống bán phá giá, nguyên đơn sẽ không còn nhiều động cơ, cũng như phương tiện tài chính để theo đuổi vụ kiện. Do vậy có thể giảm bớt được các nỗ lực của họ nhằm tiếp tục gây khó khăn cho các doanh nghiệp có sản phẩm bị kiện.

- Tuy nhiên, đến tận 1/10/2007 việc xóa bỏ Tu chính án mới chính thức được thực hiện. Theo bà, đâu là nguyên nhân của việc kéo dài thời gian này?

- Như đã nói trên, thực ra Chính phủ Mỹ đã phải chịu sức ép rất lớn từ các ngành công nghiệp muốn được bảo hộ trong nước. Việc Chính phủ Mỹ bãi bỏ Tu chính án Byrd là nhằm đối phó với sức ép từ bên ngoài, và việc tiếp tục trì hoãn kéo dài hiệu lực dường như là để xoa dịu các phản ứng từ trong nước Mỹ.

Hơn nữa, một trong những nguyên tắc cần tôn trọng khi thay đổi luật pháp là phải tạo cho đối tượng bị tác động bởi thay đổi đó có thời gian để lường trước và định hướng lại hành vi, và tránh cho họ bị tổn hại vì đã hành động theo các quy định trước. VN cũng áp dụng nguyên tắc này. Ví dụ, Luật Đầu tư chung mà Quốc hội VN vừa được ban hành nhưng đến 1/7/2006 mới có hiệu lực. Tuy nhiên, trong trường hợp của Tu chính án Byrd, thời gian kéo dài quá mức như vậy dường như không chỉ vì sự cần thiết nói trên, mà còn thể hiện thái độ muốn níu kéo của phía Mỹ đối với đạo luật này.

- Bà có lời khuyên gì cho các doanh nghiệp để không bị "dính" vào những vụ kiện chống bán phá giá?

- Việc bãi bỏ Tu chính Án Byrd không có nghĩa là các doanh nghiệp Mỹ sẽ không tiếp tục đi kiện các doanh nghiệp nước ngoài bán phá giá vào thị trường Mỹ. Do vậy, các doanh nghiệp trong nước có sản phẩm xuất khẩu cạnh tranh tốt trên thị trường này vẫn không thể lơi là việc giám sát quá trình bán hàng để tránh bị kiện chống phá giá và tích cực chuẩn bị khi vụ kiện có nguy cơ xảy ra.

Hơn nữa, tôi sẽ không ngạc nhiên nếu các doanh nghiệp Mỹ sẽ lại tìm được một phương án mới, có thể là một đạo luật mới, thay cho Tu chính án Byrd để tiếp tục hưởng các lợi ích từ việc bảo hộ. Họ rất giỏi về vấn đề này và sẵn sàng bỏ tiền thuê chuyên gia để phát kiến ra những phương án tinh vi hơn cũng như vận động để có được sự ủng hộ của Chính phủ và Quốc hội Mỹ.

Các doanh nghiệp VN khi đã trở thành đối thủ cạnh tranh mạnh trên thị trường thế giới thì phải luôn luôn chuẩn bị kỹ lưỡng để sẵn sàng đối phó. Các vụ kiện chống bán phá giá chống lại hàng xuất khẩu của VN chứng tỏ những hàng hoá này có khả năng cạnh tranh tốt hơn hàng sản xuất trong nước của những nước nhập khẩu. Do đó, điều mà họ cần làm, theo tôi, là nhanh chóng ứng phó và hợp tác với luật sư khi vụ kiện có khả năng xảy ra. Trong trường hợp bị kiện, luôn luôn có những luật sư VN và quốc tế sẵn sàng trợ giúp.

Hà Vy thực hiện