Ngành chè lúng túng trước ngưỡng cửa hội nhập
Các Website khác - 07/09/2005

Hệ thống phân phối vòng vèo, sản phẩm không đảm bảo chất lượng, thiếu vùng nguyên liệu... Bức tranh không mấy sáng sủa vừa được Hiệp hội chè VN (Vitas) công bố cho thấy, nếu không khắc phục, ngành chè sẽ khó có khả năng cạnh tranh khi VN chính thức đặt chân vào WTO.

VN đứng thứ 9 về sản lượng của với thế giới.
Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, VN đang đứng thứ 7 về xuất khẩu và chiếm 6% sản lượng xuất khẩu của thế giới.

Năm 2004, VN đã xuất khẩu được 100.000 tấn chè trực tiếp sang 68 thị trường, đạt kim ngạch 100 triệu USD. Kết quả thực hiện 8 tháng đầu năm nay là 45.000 tấn, kim ngạch 47 triệu USD.

Tại cuộc hội thảo về "Thực trạng và giải pháp phát triển ngành chè" do Hiệp hội chè VN vừa tổ chức mới đây, nhiều ý kiến cho rằng, dù có lợi thế về xuất khẩu song ngành chè vẫn còn tồn tại nhiều bất cập cần giải quyết.

Theo Tổng thư ký Hiệp hội chè VN Nguyễn Tấn Phong, trở ngại lớn nhất của ngành hiện vẫn là vấn đề vùng nguyên liệu. Hiện nay, cả nước có 34 tỉnh, thành phố với diện tích đất canh tác để trồng chè với phạm vi phân bố khá rộng. Tuy nhiên, diện tích trồng chè này vẫn chưa đáp ứng được sự bùng nổ của các cơ sở sản xuất tại các địa phương. Chỉ tính từ năm 1999 đến nay, số cơ sở chế biến đã tăng gần 3 lần với hàng vạn lò chế biến thủ công nhỏ ở khắp các tỉnh trọng điểm ở trung du và miền núi phía Bắc. Đó là chưa kể hơn 600 doanh nghiệp sản xuất và chế biến chè có đăng ký kinh doanh.

Ông Phong lo ngại việc có quá nhiều lò chế biến trên một vùng nguyên liệu chật hẹp đã xảy ra tình trạng tranh mua, tranh bán giữa các doanh nghiệp, ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh. "Với sự phát triển công nghệ chế biến ở các tỉnh trọng điểm chè đã xảy ra tình trạng tranh mua tranh bán quyết liệt thậm chí dẫn đến đổ máu như ở vùng chè Thanh Ba vào trung tuần tháng 7", ông Phong nói.

Một vấn đề khác được nhiều người tại hội thảo đề cập là giá búp tươi biến động có lợi cho nông dân, song lại xuất hiện tình trạng khai thác quá mức khiến cây chè bị kiệt quệ. Nếu năm 1995, giá chè búp tươi bình quân chỉ đạt 1.131 đồng/kg (có thời điểm chỉ 500 đồng/kg) thì đến thời điểm này giá chè đã tăng gấp 2-3 lần.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Tạo, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chè VN cho rằng, do mạng lưới chế biến phát triển quá nhanh, nhiều vùng mang tính tự phát, phi quy hoạch, không tương xứng với năng suất và sản lượng nguyên liệu. Hậu quả là cây chè bị suy kiệt về dinh dưỡng. Cái vòng luẩn quẩn này cuối cùng lại tác động trực tiếp và tiêu cực đến người nông dân.

Thách thức lớn đối với ngành chè VN trước ngưỡng cửa hội nhập, theo các chuyên gia trong ngành, là vấn đề chất lượng.

Ở nhiều vùng chè, hệ thống chế biến còn chắp vá và không theo một hệ thống quy chuẩn nào. Không ít những cơ sở sản xuất chè chỉ làm từng công đoạn đơn giản như mua gom hoặc làm héo sản phẩm, sau đó thực hiện nốt những công đoạn chế biến còn lại ở cơ sở sản xuất hoặc ở doanh nghiệp khác.

Ngoài ra, tình trạng chia nhỏ, tách rời một hệ thống chế biến, chỉ bán những sản phẩm sơ chế thứ cấp đã dẫn đến bất ổn định về chất lượng sản phẩm. Hậu quả là chè bị chát khét, không đảm bảo tiêu chuẩn, chè lẫn loại do sàng phân loại chưa đúng quy trình công nghệ, dẫn đến tình trạng những sản phẩm thế giới cần thì VN không có.

Giám đốc Công ty Chè Mộc Châu Phạm Tiến Lộ cho rằng, bất cập này xuất phát từ việc ở mỗi địa phương không quy hoạch rõ ràng về vùng nguyên liệu cho các doanh nghiệp trên địa bàn mình.

Minh Khuyên