Dược thảo chữa thủy đậu
Các Website khác - 27/02/2006
Lá bạc hà (i.timeinc.net).

Bệnh thủy đậu có thể điều trị bằng nhiều loại cây cỏ quen thuộc dễ kiếm như bạc hà, đậu xanh, lá dâu tằm, kinh giới, lá tre... Căn bệnh này thường phát triển mạnh vào mùa đông xuân, hay gặp nhất ở trẻ em.

Các loại thảo dược giúp chữa thủy đậu:

Bạc hà: Tinh dầu bạc hà và hoạt chất menthol có tác dụng sát khuẩn. Bạc hà trị ngoại cảm phong nhiệt, phát sốt, không ra mồ hôi, nhức đau, ngạt mũi, ho, viêm họng, sưng đau. Ngày dùng 4-8 g dưới dạng thuốc hãm, thường phối hợp với các vị khác.

Cam thảo: Cam thảo được dùng chữa cảm, ho mất tiếng, viêm họng, ngộ độc. Ngày dùng 4-12 g dưới dạng bột, thuốc hãm, thuốc sắc.

Lá dâu tằm: Chữa cảm mạo, phong nhiệt, sốt nóng, phát ban, nhức đầu, ho, viêm họng. Ngày dùng 4-12 g dạng thuốc sắc.

Dành dành: Chữa sốt, bồn chồn, khó ngủ, vàng da, tiểu tiện khó. Ngày dùng 6-12 g dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán.

Đậu xanh: Có tác dụng chữa sốt nóng, phiền khát, các trường hợp ngộ độc. Vỏ hạt đậu xanh cũng có tác dụng giải nhiệt, tiêu độc, làm cho mắt khỏi mờ. Ngày dùng 25-50 g hạt đậu xanh hoặc vỏ đậu xanh, sắc nước uống.

Sinh địa (địa hoàng): Chữa âm hư, phát nóng về chiều, khát nước, viêm họng đau, ban chẩn, tân dịch khô. Ngày dùng 8-16 g dạng thuốc sắc.

Hoàng cầm: Là thuốc an thần, hạ sốt, chống co giật, chữa sốt cao kéo dài, cảm mạo, phế nhiệt, ho, mất ngủ. Ngày uống 6-15 g dạng thuốc sắc hoặc thuốc bột.

Kim ngân: Là thuốc kháng khuẩn, hạ sốt và chống dị ứng. Được dùng chữa mụn nhọt, mày đay, ban sởi, ho do phế nhiệt. Ngày dùng 4-6 g hoa hay 10-16 g cành lá.

Kinh giới: Là thuốc kháng khuẩn và hạ sốt, dùng chữa cảm mạo, sốt, cúm, nhức đầu, hoa mắt, viêm họng, sởi. Ngày dùng 6-16 g dạng thuốc sắc, hãm hoặc bột.

Liên kiều: Là thuốc kháng khuẩn, kháng virus cúm, kháng nấm, hạ sốt, chống viêm, lợi tiểu. Được dùng chữa phong nhiệt, cảm sốt, viêm đau họng, phát ban. Ngày dùng 10-30 g (dùng riêng) hoặc 6-12 g (phối hợp với các vị khác), dạng thuốc sắc.

Phòng phong: Có tác dụng hạ sốt, chống dị ứng. Được dùng trị ngoại cảm, nhức đầu, choáng váng. Ngày dùng 6-12 g, dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán. Thường phối hợp với các vị thuốc khác.

Sài hồ bắc: Có tác dụng hạ sốt, giảm đau, an thần, chống viêm, điều hòa miễn dịch, bảo vệ gan. Được dùng chữa sốt cao, chữa những bệnh nhiễm khuẩn có sốt, điều trị sốt, đau và viêm kết hợp với cúm và cảm lạnh. Ngày dùng 10-15 g, sắc uống.

Rễ sậy: Được dùng làm thuốc chữa sốt, bí tiểu tiện. Ngày dùng 10-12 g, sắc uống.

Lá tre: Có tác dụng hạ sốt, lợi tiểu. Được dùng chữa cảm sốt, khát nước, ra nhiều mồ hôi, ho, trẻ em kinh phong. Ngày dùng 20 g dạng thuốc sắc.

Xích thược: Được dùng làm thuốc hạ sốt, giảm đau, sắc uống.

Thủy đậu nhẹ

Những nốt thủy đậu mọc rải rác, xung quanh màu hồng nhạt, sốt nhẹ, có khi không sốt, ho ít, nước mũi loãng trong, ăn uống bình thường.

Bài 1: Kim ngân, sài đất, kinh giới, thổ phục linh mỗi vị 15-20 g. Sắc uống ngày một thang.

Bài 2: Lá tre 16 g, lá dâu 12 g; kim ngân, rễ sậy mỗi vị 10 g; cam thảo đất, cúc hoa, kinh giới mỗi vị 8 g, bạc hà 6 g. Sắc uống ngày một thang.

Bài 3: Liên kiều, lá tre mỗi vị 8 g; cát cánh, đạm đậu xị mỗi vị 4 g; bạc hà, chi tử (dành dành), cam thảo mỗi vị 2 g, hành tăm 2 củ. Sắc uống ngày một thang.

Bài 4: Cam thảo dây, sinh địa, kim ngân, vỏ đậu xanh mỗi vị 12 g, lá tre 10 g; hoàng đằng, rễ sậy mỗi vị 8 g. Sắc uống ngày một thang.

Bài 5: Mã đề 12 g; hoạt thạch, liên kiều, ngưu bàng tử mỗi vị 8 g; hoàng cầm, xích thược, sài hồ, chi tử, mộc thông mỗi vị 6 g; phòng phong, kinh giới, cam thảo, đương quy mỗi vị 4 g, thuyền thoái 2 g. Sắc uống ngày một thang.

Thủy đậu nặng

Nốt đậu mọc dày, sắc tím tối, màu nước đục, xung quanh nốt thủy đậu màu đỏ sẫm, sốt cao phiền khát, mặt đỏ môi hồng, niêm mạc miệng có những nốt phỏng. Nốt phỏng rất dễ vỡ, dễ loét và dễ gây bội nhiễm.

Bài 1: Bồ công anh 16 g; kim ngân, sinh địa mỗi vị 12 g; liên kiều, xích thược, chi tử sao mỗi vị 8 g. Sắc uống ngày một thang. Họng đau, thêm xạ can 4 g, sơn đậu căn 8 g. Khát nước, miệng khô, thêm qua lâu, mạch môn, sa sâm mỗi thứ 8-12 g.

Bài 2: Bôi nước lá chàm hay bột chàm (thanh đại), hoặc dùng rau sam, hay lá thuốc bỏng, hoặc xuyên tâm liên, giã nát rồi chấm lên nốt phỏng.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)