Nhục đậu khấu
Các Website khác - 09/02/2005

"Tôi được người bạn cho một gói bột nhục đậu khấu để chữa tê thấp, đau người; nhưng lại nghe nói đây là vị thuốc có tính độc nên còn phân vân chưa dám dùng. Xin bác sĩ cho biết rõ hơn về vị thuốc này".

Trả lời:

Nhục đậu khấu có tên khoa học Myristica fragrans Houtt, cho ta các vị thuốc sau: nhục đậu khấu (Semen Myristicae) là nhân phơi hay sấy khô của cây nhục đậu khấu; ngọc quả hoa (còn gọi là nhục đậu khấu y) là áo của hạt nhục đậu khấu phơi hay sấy khô. Cây nhục đậu khấu có được trồng ở miền Nam nước ta.

Nhục đậu khấu và ngọc quả hoa đều là những vị thuốc thơm, có tác dụng kích thích, được dùng trong cả Đông và Tây y; dùng với liều cao thì có thể gây độc. Chỉ cần dùng nguyên cả một hạt đã có hiện tượng độc. Sau một thời gian kích thích ngắn, bệnh nhân có hiện tượng mệt mỏi, trì độn và ngủ gật. Nếu dùng ít, nó có tác dụng xúc tiến sự bài tiết dịch vị, giúp tiêu hóa tốt, kích thích nhu động ruột, tạo cảm giác ngon, nhưng uống nhiều quá sẽ làm say tê, có khi tiểu tiện ra huyết rồi chết. Theo Đông y, nhục đậu khấu vị cay, tính ôn, hơi độc, chữa lạnh bụng, đau bụng, đầy chướng. Phàm nhiệt tả, nhiệt lỵ và bệnh mới phát không được dùng.

Nhục đậu khấu là một vị thuốc dùng để kích thích tiêu hóa, làm thuốc kích thích chung trong các trường hợp kém ăn, sốt rét. Dùng dưới dạng bột hay thuốc viên. Ngày uống 0,25-0,50 g. Có khi dùng 2-4 g. Bơ đậu khấu dùng xoa bóp ngoài chữa tê thấp, đau nhức. Ngọc quả hoa dùng như nhục đậu khấu.

Chữa kém ăn, ăn uống không tiêu: Nhục đậu khấu 0,5 g, nhục quế 0,5 g, đinh hương 0,2 g; tất cả tán thành bột, trộn với đường sữa 1 g. Chia làm 3 gói, ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 gói.

Giúp tiêu hóa, kém ăn, nôn mửa, đau bụng: Bột quế 100 g, bột nhục đậu khấu 80 g, bột đinh hương 40 g, bột sa nhân 30 g, bột canxi cacbonat 250 g, đường 500 g tán nhỏ. Tất cả trộn đều. Ngày dùng 0,5 g đến 4 g bột này.

GS Đỗ Tất Lợi, Sức Khỏe & Đời Sống