Những nguy cơ tiềm ẩn về sức khỏe
Các Website khác - 14/12/2007
Phụ nữ ở độ tuổi sinh sản (khoảng từ 20 đến 50) tiềm ẩn nhiều nguy cơ về sức khoẻ. Môi trường ô nhiễm, cuộc sống nhiều stress, thực phẩm không an toàn, tình dục phóng túng... đều có thể là những yếu tố đóng vai trò tác động.

Cao huyết áp

Tình trạng huyết áp cao thường xuyên gọi là bệnh cao huyết áp. Cao huyết áp có thể là triệu chứng của một bệnh đang diễn ra trong cơ thể hoặc báo hiệu sự xuất hiện của một bệnh trong tương lai.

Bệnh cao huyết áp thường có diễn biến lặng lẽ, không thể hiện triệu chứng gì, cho tới một ngày nào đó bỗng xảy ra biến chứng nghiêm trọng. Khi huyết áp tăng cao - có nghĩa là tim và mạch máu phải chịu sự căng thẳng hơn bình thường - cần điều trị sớm để đề phòng bệnh tiến triển; hơn nữa, ở giai đoạn này, việc kiểm soát huyết áp cũng dễ dàng hơn. 90% các trường hợp cao huyết áp đều không có nguyên nhân rõ ràng. Cao huyết áp do một bệnh nào đó gọi là cao huyết áp thứ phát.

Phụ nữ ở độ tuổi sinh sản cần chú ý đến sức khỏe của mình

Nguyên nhân gây ra cao huyết áp thường là bệnh lý ở thận và tuyến giáp trạng. Ngoài ra, yếu tố di truyền, tuổi tác, chủng tộc hoặc tình trạng căng thẳng thần kinh, béo phì, ăn mặn, nghiện thuốc lá, nghiện rượu và lối sống trì trệ cũng được xem là những yếu tố phối hợp gây nên cao huyết áp.

Cao huyết áp gây tổn hại cho 3 cơ quan mục tiêu: tim, thận, não (kể cả đáy mắt). Trong các biến chứng trên, cần đặc biệt phòng chống biến chứng ở não, vì đây là loại biến chứng thường gặp và trực tiếp gây nguy hiểm cho tính mạng.

Béo phì

Là trạng thái dư thừa cân nặng do cơ thể tích tụ quá nhiều mỡ. Người béo phì là người có chỉ số khối lượng cơ thể (BMI) dao động trong khoảng 25 - 39,9.

Người béo phì có nguy cơ cao mắc các bệnh như tăng mỡ trong máu dẫn đến sơ vữa động mạch làm tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, bệnh tiểu đường, sỏi mật, rối loạn tiêu hóa, táo bón, viêm khớp, thoái hóa cột sống...

Không có phép màu nhiệm nào có thể thay đổi béo phì ngoài việc thay đổi chế độ ăn và vận động thường xuyên.

Bệnh mỡ máu

Căn bệnh này được coi là nỗi lo của thời đại vì gắn liền với cuộc sống dư thừa về vật chất. Nói đến bệnh mỡ máu thực chất là nói đến 2 thành phần mỡ chính có trong máu:

Cholesterol và trigliceride (hay còn gọi là lipoprotein). Một người được coi là bệnh mỡ máu khi có sự tăng tổng thể cholesterol bao gồm tăng cholesterol "xấu" (LDL cholesterol) và triglyceride đồng thời giảm nồng độ cholesterol "tốt" (HDL cholesterol). Nồng độ  cholesterol "xấu" cao là nguy cơ chính gây bệnh tim, xơ vữa động mạch. Tuy nhiên, khi bị mỡ máu, không cần loại trừ hoàn toàn mỡ trong bữa ăn mà nên biết chọn loại mỡ tốt nhất và sử dụng một cách chừng mực vì cơ thể cần có mỡ mới có thể vận hành các chức năng một cách bình thường. Ngoài ra, mỡ trong thức ăn cần chuyển những vitamin tan trong mỡ như vitamin A, D, E và K vào cơ thể.

Lời khuyên

Những phương pháp giúp giảm cholesteron có hại:

Ăn ít mỡ động vật

Nấu nướng bằng các loại dầu thực vật như dầu olive, dầu lạc, dầu canola.

Luôn kiểm soát việc tăng trọng lượng của cơ thể bởi khi bạn tăng thêm 1kg, mức cholesteron sẽ tăng lên 2 số.

Tuyệt đối không nên hút thuốc lá và hạn chế uống cà phê.

Ăn thực phẩm có tác dụng hạ cholesteron như các loại đậu, sả, tỏi, bắp, cà rốt, trà, sữa gầy.

Tập thể dục đều đặn hàng ngày.

Bổ sung thêm vitamin E.

Bệnh tiểu đường

Bệnh có nhiều thể (còn gọi la tuýp). Tiểu đường tuýp 1 thường xảy ra ở trẻ em nhưng có khi cả ở người lớn, khi tuyến tụy không bài tiết đủ insulin, phải dùng insulin bổ sung. Đây được coi là bệnh tự miễn dịch nghĩa là cơ thể tự tấn công chính mình.

Triệu chứng của tiểu đường thể này là đi tiểu nhiều, cơ thể yếu, luôn cảm thấy khát và mệt mỏi. Các triệu chứng thường xất hiện nhanh sau một trận ốm. Tiểu đường tuýp 2 là thể tiểu đường phổ biến nhất, khoảng 90 - 95% số người bị tiểu đường độ tuổi từ 20 trở lên rơi vào thể này; phần lớn trong số đó là những người quá cân. Tiểu đường tuýp 2 thường không cần tiêm insulin và không phải là bệnh tự miễn dịch. Đặc điểm của bệnh này là: Tuyến tuỵ không bài tiết đủ insulin hoặc kháng insulin, không chấp nhận insulin để đưa đường vào tế bào, do đó đường thường bị tích lại trong máu.

Tiểu đường khi có thai là thể tiểu đường chỉ xảy ra trong thời gian mang thai, khi các hormone bài tiết ở thời kì thai sản làm tăng khả năng kháng insulin của cơ thể. Bệnh thường xảy ra vào giai đoạn thứ 2 của thai nghén, nhất là vào 3 tháng cuối và thường hết sau khi không còn mang thai nữa... Cần phát hiện sớm bệnh tiểu đường khi có thai và để giảm các biến chứng cho cả mẹ và con.

Vĩnh Thương (Theo Thoitrangtre )