Thuốc cầm máu từ cây bạch cập
Các Website khác - 07/09/2005

Bạch cập là một trong số loài địa lan được dùng làm thuốc. Theo y học cổ truyền, bạch cập vị đắng, ngọt, hơi chát và dính, tính bình, không độc, có tác dụng cầm máu, sinh cơ, làm tan máu ứ, hàn vết thương.

Thân rễ bạch cập (thường gọi là củ) là bộ phận dùng làm thuốc duy nhất, được thu hái vào mùa thu đông, cắt bỏ gốc thân và rễ nhỏ, rửa sạch, nhúng vào nước sôi trong 3-5 phút hoặc đồ đến khi mặt trong thân rễ có màu trắng đục, bóc vỏ ngoài, phơi nắng nhẹ hoặc sấy nhỏ lửa cho khô. Khi dùng, ngâm dược liệu vào nước cho mềm rồi thái phiến.

Chữa khạc ra máu, chảy máu cam: Thân rễ bạch cập phơi khô kiệt, tán nhỏ, rây bột mịn. Mỗi lần uống 4-8 g, ngày dùng hai lần. Có thể kết hợp lấy bột bạch cập trộn với nước làm thành bánh nhão đắp lên sống mũi (đối với chảy máu cam).

Chữa thổ huyết, chảy máu dạ dày: Bạch cập (2 phần), tam thất (1 phần). Tán bột, rây mịn, trộn đều. Mỗi lần uống 10-15 g với nước cơm.

Chữa loét dạ dày, đi ngoài phân đen: Bạch cập 40 g, trầm hương 20 g, hoài sơn (sao) 20 g. Tất cả đem tán bột mịn. Mỗi lần uống 12-20 g vào lúc đói.

Chữa trĩ ra máu: Bạch cập 100 g, diếp cá 200 g, hai thứ sấy khô, tán bột. Ngày uống 6-12 g chia làm 2-3 lần.

Chữa ho ra máu: Bạch cập 15 g, vỏ rễ dâu, sinh địa, tri mẫu, hạt mơ, bạch thược, a giao mỗi vị 9 g, bối mẫu 6 g, hồng hoa 3 g, cam thảo 3 g, lòng trắng 2 quả trứng gà, sắc với 400 ml nước còn 100 ml, uống làm hai lần trong ngày. Dùng 10 ngày, sau đó nghỉ 7 ngày, rồi uống tiếp đợt khác. Dùng 3-4 đợt.

DS Hữu Bảo, Sức Khỏe & Đời Sống