Mỹ - nhà đầu tư lớn của Việt Nam
Các Website khác - 21/02/2006

Tổng vốn đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam, kể cả qua nước thứ 3, nhiều hơn gấp 3,5 lần so với báo cáo hiện nay. Nhà đầu tư Mỹ còn nhiều tiềm năng nhưng VN vẫn chưa khai thác hết.

Đó là kết quả nghiên cứu tác động của Hiệp định thương mại song phương Việt - Mỹ (BTA) đến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và đầu tư của Mỹ tại VN do Cục đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng Star - VN (Dự án hỗ trợ triển khai hiệp định BTA) công bố trong chiều qua, tại TP HCM.

Ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Đầu tư nước ngoài cho biết, theo số liệu báo cáo do Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra thì đầu tư trực tiếp của Mỹ (không kể đầu tư qua nước thứ 3) chỉ tăng nhẹ sau khi hiệp định BTA có hiệu lực kể từ năm 2001. Chính điều này đã làm cho nhiều người nghĩ rằng, tuy thương mại song phương 2 nước có sự tăng trưởng vượt bậc sau năm 2001 nhưng hiệp định lại ảnh hưởng không đáng kể đến đầu tư FDI của Mỹ vào VN.

Dệt may là một trong những lĩnh vực thu hút nguồn vốn FDI lớn từ Mỹ. Ảnh: T.V.

Cụ thể báo cáo về vốn FDI của Mỹ vào VN (kể cả đầu tư qua nước thứ 3) từ năm 1988 đến năm 2004 chỉ có 730 triệu USD. Trong khi đó, số liệu thống kê của nhóm nghiên cứu tác động từ BTA đến đầu tư trực tiếp Mỹ tại VN công bố chiều qua là 2,6 tỷ USD.

Điều này cho thấy, một bức tranh khắc hẳn về đầu tư của Mỹ vào VN, vì tổng vốn cao hơn rất nhiều so với số liệu được báo cáo trong nhiều năm qua. Mặt khác, đầu tư trực tiếp của Mỹ (cả đầu tư thông qua nước thứ 3) cũng tăng mạnh kể từ khi hiệp định BTA có hiệu lực, đạt mức tăng bình quân 27%/năm (từ năm 2002 đến 2004). Riêng năm 2004, số vốn thực hiện của Mỹ tại VN là 531 triệu USD. "Mỹ được đánh giá là nhà đầu tư lớn nhất vào VN trong năm 2004 chứ không phải là Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan như đã công bố", ông nói.

Theo ông Tuấn, nếu xét góc độ các ngành được xem có tiềm năng xuất khẩu sang thị trường Mỹ thì kể từ khi hiệp định BTA có hiệu lực tổng đầu tư FDI Mỹ tăng mạnh vào lĩnh vực may mặc, đồ gỗ và thủy sản. Tỷ trọng của các ngành này trong tổng vốn FDI đăng ký tăng từ 3% trong năm 1998 lên 16% trong năm 2004. Mặt khác, nếu tính về con số tuyệt đối, mức tăng trưởng vốn FDI của Mỹ vào VN vẫn còn khiêm tốn so với sự tăng trưởng ngoạn mục về thương mại song phương giữa 2 nước. Song tỷ trọng vốn FDI của Mỹ trong tổng vốn thực hiện năm 2004 đã lên tới 20%, tương đương với kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ của VN cùng năm. Tuy nhiên, ông cho rằng, tiềm năng của nhà đầu tư Mỹ vẫn còn rất lớn mà VN vẫn chưa khai thác hết. Vì tổng vốn đầu tư của Mỹ vào VN hiện chỉ bằng 28% vốn FDI của Mỹ vào Thái Lan và 20% vào Indonesia.

Theo ông Steve Parker, Giám đốc STAR-VN, các công ty Mỹ đầu tư vào VN chủ yếu thông qua các công ty con của nước thứ 3. Lý do, các quy định về thuế của Mỹ khuyến khích doanh nghiệp đầu tư từ các công ty con ở nước ngoài. Đồng thời, thị trường VN còn tương đối nhỏ. Vì thế, một số công ty Mỹ đã đầu tư vào VN thông qua các văn phòng tại Singapore, Hong Kong hoặc các nước mà chính quyền Mỹ có ưu đãi về thuế. Thực tế kết quả báo cáo của nhóm nghiên cứu cũng cho thấy, doanh nghiệp Mỹ tăng cường đầu tư vào VN qua các công ty con ở nước ngoài mạnh hơn nhiều so với đầu tư trực tiếp từ công ty mẹ ở Mỹ.

Steve cho rằng, nếu đánh giá đầu tư trực tiếp của Mỹ vào VN mà không tính đến khoản đầu tư qua nước thứ 3 là chưa đầy đủ. Theo hiệp định BTA, các dự án đầu tư từ công ty con của Mỹ ở nước ngoài và đầu tư trực tiếp từ công ty mẹ ở Mỹ điều được coi như là những điều khoản đầu tư. Do đó, theo ông để đánh giá đầy đủ ảnh hưởng của hiệp định đến đầu tư trực tiếp của Mỹ vào VN cần đánh giá đầu tư trực tiếp từ các công ty mẹ ở Mỹ và qua các công ty con ở nước thứ ba.

Theo đánh giá của Cục đầu tư và nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đây mới chỉ là bước đầu của dự án nên có thể chưa đánh giá hết tác động của BTA đến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào VN. Do đó, hướng nghiên cứu trong giai đoạn tới là đi sâu phân tích tác động của hiệp định đến các lĩnh vực VN đang đẩy mạnh thu hút đầu tư như dịch vụ và cơ sở hạ tầng...

Nguyễn Thùy