ODA không phải tiền chùa
Các Website khác - 10/04/2006

Dư nợ nước ngoài của Việt Nam đến cuối 2005 đạt khoảng 18,2 tỷ USD, chiếm 51,7% xuất khẩu và tương đương 20-30% GDP. Theo các chuyên gia, tình hình nợ của Việt Nam vẫn trong tầm kiểm soát và không phải quá lo lắng về khả năng thanh toán, nếu vụ tiêu cực ở PMU18 chưa bị phơi bày.

1993 được lấy làm mốc kể từ ngày Việt Nam bắt đầu tiếp nhận nguồn viện trợ phát triển không chính thức (ODA) từ các nhà tài trợ song phương, đa phương cũng như các tổ chức phi chính phủ. Đa phần vốn vay ODA ưu đãi đều dùng cho công cuộc xoá đói giảm nghèo, phát triển nông nghiệp nông thôn, giao thông vận tải và thông tin liên lạc. Lãi suất vay vốn ODA tương đối thấp, 0,7-0,8%/năm, chỉ bằng 1/10 so với vay thông thường, thời gian trả nợ kéo dài tới 40-50 năm.

Cũng chính vì điều kiện khá ưu đãi, ở một số nơi sử dụng vốn vay ODA đã nảy sinh tâm lý “xài tiền chùa”. Theo nhận xét của chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, số tiền này bị đục khoét chẳng khác nào bố mẹ vay tiền để tiêu dùng cá nhân rồi để nợ cho con cháu đời sau phải trả. Tính bình quân, mỗi người Việt Nam trong độ tuổi lao động đang cõng trên lưng khoản nợ nước ngoài tương đương trên 40 USD.

Mới chú trọng khâu thu hút ODA

Vấn đề nợ của Việt Nam thường ngày chẳng mấy khi được nhắc tới. Song kể từ lúc cơ quan chức năng phát hiện người đứng đầu PMU18, đang quản lý các dự án vay vốn ODA trị giá gần 30.000 tỷ đồng, ngang nhiên ném hàng triệu đôla Mỹ vào chiếu bạc, người ta mới giật mình tự hỏi vốn vay ODA đang sử dụng như thế nào.

Khung pháp lý cao nhất về quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA hiện là Nghị định 17 của Chính phủ, được ban hành từ năm 2001. Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng ban hành Thông tư hướng dẫn sử dụng nghị định này. Theo đó, việc thu hút, quản lý và sử dụng ODA phải trải qua một quy trình thống nhất. Trên cơ sở danh mục các chương trình, dự án cần được ưu tiên sử dụng ODA, các cơ quan liên quan sẽ đi vận động, đàm phán, ký kết các điều ước, các văn kiện về ODA. Sau khi các cam kết giữa bên cho vay và bên vay bắt đầu có hiệu lực, vốn ODA sẽ được chuyển về và giải ngân cho các dự án theo kiểu Nhà nước cấp phát từ ngân sách, cho vay lại từ ngân sách hoặc kết hợp cả hai.

Nghị định 17 gồm 8 chương, 46 điều, song có tới 4 chương và 23 điều nói về việc lập kế hoạch vận động, đàm phán, ký kết các điều ước về ODA. Hai chương cuối gồm 10 điều quy định về quản lý nhà nước liên quan tới ODA và điều khoản thi hành. Chỉ có hai chương V và VI với 13 điều quy định về quản lý thực hiện, theo dõi, đánh giá chương trình, dự án ODA.

Theo tinh thần chung, công việc thẩm định, đánh giá dự án phải được tiến hành thường xuyên, định kỳ và tất cả các cơ quan quản lý nhà nước về ODA đều có trách nhiệm tham gia, nhằm phân tích làm rõ tương quan giữa kết quả đạt được trên thực tế so với mục tiêu cần đạt được, đồng thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc nhằm tìm ra biện pháp khắc phục, phòng ngừa.

Quy định là vậy, nhưng theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hiện nay ở Việt Nam có rất ít kinh nghiệm về thẩm định đánh giá tình hình thực hiện các chương trình dự án ODA ở cấp chủ dự án và ban quản lý dự án. Công tác theo dõi các chương trình, dự án ODA hầu như mới tập trung vào báo cáo tiến độ, tình hình thực hiện và giải ngân dự án, chủ yếu nhằm đáp ứng yêu cầu của cấp trên, của nhà tài trợ để được giải ngân vốn.

Ban quản lý dự án được giao quá nhiều quyền

6 bộ và cơ quan ngang bộ kể trên có trách nhiệm quản lý nhà nước về ODA. Nhưng theo sự phân công hiện nay, đa phần các cơ quan này vẫn chủ yếu lo làm thế nào để để thu hút được vốn ODA với những điều kiện thuận lợi nhất cho Việt Nam. Còn trọng trách thực hiện, giám sát và thẩm định hiệu quả dự án, tiến độ thi công phần lớn được phó thác cho chủ đầu tư, mà đại diện là các ban quản lý dự án.

Cầu vượt Ngã Tư Sở là một trong những dự án lớn sự dụng vốn ODA. Ảnh: T.H.

Ban quản lý dự án thường được thành lập theo quyết định của cơ quan chủ quản (các bộ hoặc uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) ngay sau khi văn kiện chương trình dự án ODA được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Cơ quan này có toàn quyền thay mặt chủ dự án thực hiện các quyền hạn và nhiệm vụ được giao từ khi bắt đầu thực hiện cho đến khi kết thúc dự án, kể cả việc quyết toán, nghiệm thu, bàn giao đưa vào dự án khai thác, sử dụng.

Trên thực tế, có một tổ công tác liên ngành giám sát các dự án ODA, nhưng cơ quan này chỉ can thiệp khi có vướng mắc nảy sinh. Bản thân nhà tài trợ cũng phải thuê kiểm toán quốc tế độc lập để định kỳ kiểm toán các dự án. Họ cũng phải cử tư vấn giám sát và công việc thẩm định, đánh giá được tiến hành gắt gao trước khi quyết toán từng hạng mục công trình cũng như khi kết thúc, bàn giao.

Song vì được uỷ quyền rất lớn, hơn ai hết, chỉ các ban quản lý dự án mới là nơi nắm sát nhất thực tế triển khai công trình và hiệu quả sử dụng đồng vốn. Một giám đốc ban quản lý dự án thừa nhận hiệu quả thực tế phụ thuộc rất nhiều vào việc xây dựng lực lượng của ban. Vấn đề phải được lưu tâm ngay từ đầu đó là tuyển chọn cán bộ có đủ kinh nghiệm, năng lực trách nhiệm.

Bộ Giao thông Vận tải hiện là một trong những cơ quan chủ quản nhận nhiều vốn vay ODA nhất. Công việc quản lý, giám sát các dự án ODA của Bộ được phó thác cho hơn 10 ban quản lý dự án. Riêng PMU18, từ khi thành lập (1993) đến nay, đã được giao quản lý 20 dự án cầu đường, với tổng vốn đầu tư 33.000 tỷ đồng (gần 2,1 tỷ USD). Trong đó, vốn vay ODA chiếm tới gần 30.000 tỷ đồng.

Trao đổi với báo giới mới đây, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Văn Tá thừa nhận thủ tục quản lý, giám sát các dự án ODA không quá lỏng lẻo, nhưng cách thức tổ chức kiểu PMU18 đang có vấn đề. PMU18 vừa là đại diện cho chủ đầu tư (Bộ Giao thông Vận tải), tức là bên A, nhưng các nhà thầu chủ yếu là "sân sau" của lãnh đạo ban quản lý. Do đó việc đấu thầu, kể cả tư vấn giám sát chỉ là hình thức.

"PMU18 đang xảy ra sự lũng đoạn bởi một chu trình khép kín. Không ai lại đứng ra thành lập kiểu ban quản lý như PMU18, bộ chủ quản đã giao quá nhiều quyền lực cho anh ta nhưng lại không quản lý được. Khi có quá nhiều quyền trong tay, cộng với năng lực quản lý yếu kém, cán bộ hư đốn thì nảy sinh tiêu cực là điều được nhiên", ông nói.

Theo ông Tá, không chỉ xem xét lại khâu quản lý của các PMU, trách nhiệm của các bộ ngành trong quản lý vốn đầu tư cũng phải tiếp tục được sắp xếp lại, không để tình trạng ai cũng có trách nhiệm từng khâu từng phần nhưng cuối cùng khi xảy ra một dự án lãng phí, thất thoát thì lại không biết trách nhiệm thuộc về ai.

V.P. - S.L.

Ý kiến của bạn