Bệnh tim và thai nghén
Các Website khác - 01/09/2005
Mẹ bị bệnh tim khi mang thai thường có ảnh hưởng xấu, có khi dẫn tới suy tim toàn bộ và gây tử vong. Thai phụ cần được nghỉ ngơi, điều trị tích cực ngay từ những tháng đầu để hạn chế tối đa những rủi ro.
Khi mang thai có nhiều thay đổi lớn trong hệ tim mạch, người mẹ có chức năng tim bình thường có thể thích nghi được; với người bị bệnh tim dù nhẹ hay nặng đều có ảnh hưởng xấu, nhiều khi rất nguy kịch dẫn tới suy tim toàn bộ và tỷ lệ tử vong mẹ khá cao.

Những thay đổi về tuần hoàn trong khi có thai

- Thể tích máu tăng từ tuần lễ thứ 10 và tăng tối đa từ tuần lễ thứ 30-34, tăng khoảng 2/5 thể tích so với trước khi có thai, khối lượng máu chỉ trở lại bình thường sau sinh 2 tháng

- Các chuyển hóa khác cũng tăng làm tăng tiêu thụ ôxy.

- Giảm sức cản của mạch máu ngoại vi và ứ trệ máu ở tĩnh mạch do tử cung to lên, chèn ép vào tĩnh mạch chủ.

Ba hiện tượng trên làm cho cung lượng tim tăng lên khoảng 30% ở tuần lễ thứ 34 và khoảng 80% khi chuyển dạ. Cung lượng tim tăng là nhờ tăng tần số tim và sức bóp của tim.

Ở người không bị bệnh tim, khả năng làm việc quá mức trên vẫn bảo đảm được, nhưng ở người bị bệnh tim thì đó là nguyên nhân gây ra những tai biến, tai biến nhẹ hay nặng tùy theo mức độ bệnh tim.

Ảnh hưởng của bệnh tim lên thai nghén

Bệnh tim ít gây sảy thai nhưng dễ gây đẻ non, thai chậm phát triển, thiếu máu, nhiễm khuẩn, đặc biệt là bệnh viêm màng trong tim nhiễm khuẩn. Ngoài ra, dị dạng thai thường gặp ở người mẹ bị bệnh tim bẩm sinh.

Ảnh hưởng của thai nghén lên bệnh tim

Dù bệnh tim nhẹ hay nặng thì có thai đều làm cho bệnh nặng lên và có thể xuất hiện những biến chứng như:

Phù phổi cấp: Khó thở dữ dội, tím tái, ho ra máu, nghe phổi có nhiều ran ẩm.

Suy tim cấp: Tim đập nhanh, nhịp không đều, khó thở, hồi hộp.

Loạn nhịp tim: Ngoại tâm thu, nhịp nhanh xoang hoặc loạn nhịp hoàn toàn.

Tắc mạch phổi: ít gặp nhưng nếu có thì xảy ra đột ngột, có khi tử vong rất nhanh.

Các biến chứng trên nhẹ hay nặng phụ thuộc vào mức độ của bệnh tim nhẹ hay nặng và phụ thuộc vào thai như: đa thai, đa ối... và bệnh của người mẹ đi kèm như bị hen phế quản, lao, bệnh thận, tăng huyết áp.. Vì vậy muốn tiên lượng bệnh tim, trong lúc có thai cần phải được thăm khám toàn diện.

Xử trí bệnh tim với thai nghén

Nguyên tắc: Cứu mẹ là chính; còn con là chiếu cố.

Điều trị giữ thai:

-Thai phụ cần được nghỉ ngơi, được thực hiện ngay từ quý đầu, nếu giai đoạn này qua mà không có biến chứng thì khuyên bệnh nhân vào viện từ tuần lễ thứ 32 cho tới khi sinh, vì ở những tuần lễ này, cung lượng tim tăng nhiều dễ gây ra những tai biến kịch phát.

- Chế độ ăn nhạt và lợi tiểu khi xuất hiện các triệu chứng cơ năng như khó thở, nhịp tim nhanh...

- Đề phòng các bệnh nhiễm khuẩn nhất là nhiễm khuẩn đường hô hấp.

Những việc cần làm trong lúc chuyển dạ

Giai đoạn xóa mở cổ tử cung: Khuyên sản phụ nằm nghiêng sang bên trái; cho thở ôxy; theo dõi mạch, huyết áp nhịp thở 30 phút một lần và 10 phút một lần ở giai đoạn xổ thai.

- Cho thuốc giảm đau là quan trọng để tránh cho sản phụ đau đớn và lo lắng sẽ làm nhịp tim nhanh hơn.

- Nếu cơn co tử cung yếu có thể điều chỉnh bằng oxytoxin 5-10 đơn vị trong 500ml dung dịch sinh lý truyền tĩnh mạch chậm để tránh quá tải tuần hoàn.

Giai đoạn xổ thai:

Khi cổ tử cung mở hết, ối đã vỡ, đầu đã lọt thấp không được để sản phụ rặn, gắng sức mà lấy thai ra bằng foóc-xép.

Giai đoạn xổ rau:

Giai đoạn này tuyệt đối không được vội vã và phải có thời gian để điều chỉnh tuần hoàn, vì máu từ bánh rau trở về hệ tuần hoàn khi tử cung co rút lại, hơn nữa lưu lượng máu từ các chi dưới trở về tim do không bị chèn ép như lúc có thai.

Chú ý: Sau khi xổ rau là lúc nguy hiểm nhất vì bệnh nhân dễ bị phù phổi cấp.

Xử trí trong thời kỳ hậu sản

Các thay đổi huyết động còn tồn tại trong thời kỳ hậu sản, bệnh nhân vẫn có nguy cơ bị nhiễm khuẩn và viêm tắc tĩnh mạch cũng như các biến chứng khác, vì vậy cần khuyên sản phụ cử động và đi lại nhẹ nhàng để tránh viêm tắc tĩnh mạch. Dùng kháng sinh tiêm hoặc uống trong một tuần để đề phòng nhiễm khuẩn nội tâm mạc (bệnh Osler).

Sản phụ vẫn cho con bú trừ trường hợp suy tim nặng (giai đoạn 3,4).

Bác sĩ Trần Thị Kim Thu
Theo Sức khỏe đời sống