Phát hiện sớm chấn thương sọ não giảm thiểu tử vong và di chứng
Các Website khác - 07/04/2006
Khi bị chấn thương đầu, tùy mức độ mà có thể gây chảy máu, tụ máu, gây liệt hoặc hôn mê. Cần đưa người bệnh đến các cơ sở chuyên khoa để tránh những di chứng đáng tiếc.
Thế nào là chấn thương sọ não?

Sọ là hộp xương; não là tổ chức nằm trong hộp xương sọ cứng, ngoài được phủ bởi da đầu có tóc ở ngoài cùng. Xương sọ ở người lớn là một hộp kín và cứng hơn ở trẻ em.

Não là nơi có các tế bào thần kinh, các cơ quan điều khiển mới hoạt động của con người. Trên mặt não và trong tổ chức não có mạch máu từ tim qua cổ đến nuôi dưỡng, rồi lại trở lại tim.

Khi bị chấn thương, tùy tác nhân mạnh yếu mà chỉ tụ máu dưới da đầu, vỡ xương sọ hay đứt các mạch máu, máu chảy ra đè vào tổ chức não lành chung quanh gây liệt, hôn mê. Chấn thương sọ não phải mổ có tỷ lệ tử vong vào loại cao nhất trong các bệnh phải mổ cấp cứu.

Nguyên nhân nào gây chấn thương sọ não?

Do ngã từ trên cao: trèo cây hái quả, bắt tổ chim. Ngã từ trên gác xép, ngã lăn từ trên cầu thang. Trẻ bú mẹ ngã từ võng hay trên giường xuống đất. Hay gặp hơn cả là tai nạn giao thông, tai nạn lao động, ném đá vào đầu...

Làm sao nhận ra bị chấn thương sọ não?

Những dấu hiệu ở da đầu chỉ sơ sài, tụ máu xây xát, ở trẻ đang bú mẹ thấy lõm một chỗ như quả bóng bàn bị bẹp một nơi. Điều quan trọng là có chảy máu, dập não ở bên trong không?

Nếu có chảy máu, nhưng không có nơi thoát ra ngoài, máu đó sẽ tụ lại ở bên trong còn gọi máu tụ nội sọ. Khám lâm sàng có các dấu hiệu như mạch chậm dần, thở nhanh dần, đồng tử một bên dãn to dần, huyết áp tăng dần và liệt chân, tay bên đối diện (chẩn đoán xác định cần chụp xương sọ, chụp nhiều phim cắt từng lớp để xem máu đọng ở đâu). Tuy nhiên trong chẩn đoán, bác sĩ cần hỏi gia đình bệnh nhân là có khoảng tỉnh hay không, tức là quãng thời gian bình thường trước khi bệnh nhân lơ mơ hay mê hẳn.

Vậy thế nào gọi là khoảng tỉnh?

Sau khi bị chấn thương, bệnh nhân vẫn tỉnh hoàn toàn hoặc còn tỉnh, nói được, đòi uống nước, kêu đau, khi hỏi, bệnh nhân trả lời rõ ràng, hoặc trả lời được đủ nghĩa. Như thế là bệnh nhân còn tỉnh hoặc tỉnh hoàn toàn. Nhưng sau một thời gian ngắn hoặc 3-24 giờ sau, hỏi bệnh nhân các câu đơn giản, dễ hiểu như tên, tuổi, ở đâu... bệnh nhân như người buồn ngủ, trả lời không rõ ràng, không rõ nghĩa, nặng hơn là không trả lời được. Khoảng thời gian từ lúc bị chấn thương đến khi không hiểu, không trả lời được, hoặc mê hẳn gọi là khoảng tỉnh. Thời gian này càng ngắn càng nặng. Đây là dấu hiệu chắc chắn có máu chảy và tụ lại (khối tụ máu) ở dưới xương sọ hoặc trong não.

Việc theo dõi này quan trọng ở một điểm nữa là nếu bệnh nhân sau chấn thương vào viện khám thấy bình thường được cho về nhà, có khi 13 ngày sau, thậm chí 1-3 tháng sau nếu xuất hiện sự kém hiểu biết, lơ mơ, hoặc mê đi thì phải cấp tốc đưa đến bệnh viện có điều kiện mổ được sọ não.

Ở trẻ nhỏ đang bú mẹ, hộp sọ rất mỏng nên khi ngã va vào vật cứng như thành giường, thành ghế, dễ gây lún sọ (có thể nhìn rõ chỗ lõm). Trường hợp này ít khi bị mê man, nhưng vẫn cần mổ để nâng xương bị lún, tránh những cơn động kinh sau này.

Vết thương sọ não khác chấn thương sọ não như thế nào?

Vết thương sọ não thường do vật sắc nhọn gây ra còn chấn thương sọ não thường do ngã đập đầu vào vật cứng. Vết thương sọ não nhiều khi trông thì sợ nhưng không nguy hiểm bằng khối tụ trong não do chấn thương. Chẳng hạn vết thương có rách da đầu, vỡ xương sọ, có thương tổn ít nhiều, nặng hoặc nhẹ tổ chức não bên trong. Còn chấn thương sọ não đôi khi nhìn ngoài không thấy gì nhưng ngược lại trong não có tổn thương. Tuy nhiên, những trường hợp vết thương bị rách da, chảy máu, có khi tổ chức não trắng như bã đậu lòi ra, nhưng lại ít nguy hiểm hơn trừ khi não - sọ dập nát quá nhiều.

Dù là chấn thương sọ não hay vết thương sọ não cũng đều phải chuyển ngay tới các bệnh viện có điều kiện phẫu thuật sọ não để theo dõi. Không để ở nhà theo dõi, vì khi các triệu chứng rõ ràng thì đã muộn.

Trên đường vận chuyển, cho bệnh nhân nằm đầu cao, nghiêng mặt về bên phải, có người ngồi bên cạnh lau miệng mỗi khi nôn. Nếu bệnh nhân lơ mơ hoặc đã mê cần kê vai cho cổ và đầu ngửa hẳn ra sau để hạn chế tắc đường thở. Xe vận chuyển (xe cứu thương) phải bảo đảm được các điều kiện cấp cứu kịp thời kể cả ôxy để thở và nếu cần mở khí quản khi ngạt thở.

Tóm lại, vết thương sọ não hay chấn thương sọ não là một tai nạn nặng, tử vong cao, nếu cấp cứu qua khỏi cũng để lại di chứng như không minh mẫn, liệt nửa người vĩnh viễn. Vì vậy các bậc cha mẹ và mọi người cần chú ý thận trọng trong lao động, sinh hoạt hằng ngày để tránh xảy ra tai nạn đáng tiếc nói trên.

Theo Theo Sức khỏe đời sống