Thế vận hội mùa đông 2006 với vấn nạn Doping bằng liệu pháp gien
Các Website khác - 18/02/2006
Hào quang thành tích và lợi lộc đi kèm đã khiến người ta bất chấp tất cả để giành chiến thắng.

Sự khao khát danh vọng chính là nguyên nhân tồn tại gần như bất tận của doping. Và doping thời nay khác hẳn với doping thời trước: Tinh vi hơn, khoa học hơn và khó phát hiện hơn

Cứ đến các mùa thể thao lớn là vấn đề doping lại được đặt ra. Hai tháng trước khi Olympic Athens 2004 khai mạc, vấn đề doping từng trở thành đề tài thời sự. Tháng 6-2004, một ống tiêm chứa chất bí mật nào đó cùng tetrahydrogestrinone (THG) đã được gửi đến Cơ quan Chống doping Mỹ (USADA) từ một huấn luyện viên giấu tên.

Thuốc dinh dưỡng

Vụ việc kể trên dẫn đến việc phanh phui hàng loạt vận động viên tên tuổi đã và đang dùng THG, được sản xuất từ BALCO (Bay Area Laboratory Co-operative, California) và được quảng cáo là “thuốc dinh dưỡng”. Khách hàng BALCO gồm Tim Montgomery (vô địch thế giới môn chạy 100 m), Marion Jones (đương kim vô địch thế giới môn chạy 100 m nữ), Shane Mosley (cựu vô địch quyền Anh thế giới v.v...

Trong thực tế, theo tuần báo Anh The Economist, chuyện doping xảy ra như cơm bữa trong làng thể thao thế giới. Hậu vệ hàng đầu Anh Rio Ferdinand từng bị treo giò 8 tháng về tội không thực hiện cuộc kiểm tra doping bắt buộc. Tay vợt Anh Greg Rusedski cũng suýt bị cấm thi đấu cách đây 2 năm do kiểm tra phát hiện nandrolone dương tính. Và trong môn đua xe đạp, chuyện dùng doping đã trở thành điều bình thường. Ngay cả Lance Armstrong – vận động viên xe đạp huyền thoại người Mỹ, người duy nhất chiến thắng 7 lần Tour de France – cũng từng dính vào vụ kiện liên quan đến các tác giả của L.A. Confidential (quyển sách cho rằng thành tích Lance Armstrong rất đáng ngờ). Ngoài ra còn có vô số vận động viên phải trả lại huy chương sau khi bị phát hiện dính dáng doping, như trường hợp vận động viên người Nga Anastasiya Kapachinskaya (“huy chương vàng” môn chạy 200 m nữ trong nhà). Tạm lược bỏ các trường hợp vi phạm luật chống doping, thử xem doping ngày nay khác với ngày trước như thế nào...

Trong bài viết trên Báo Scientific American, tác giả H. Lee Sweeney (giáo sư Đại học Y Pennsylvania, một trong những chuyên gia về doping hàng đầu thế giới) cho biết biến tướng tinh vi nhất của doping là gien tổng hợp (synthetic gene), có thể duy trì nhiều năm và tạo ra các chất hóa học giúp tăng cơ một cách tự nhiên.

Liệu pháp gien này có thể thay đổi cuộc sống ở người già và bệnh nhân bị loạn dưỡng cơ. Với kỹ thuật hiện tại, người ta không thể phát hiện gì cả. Các hóa chất tổng hợp giúp tăng cơ (từ liệu pháp gien) hoàn toàn giống hệt hóa chất tự nhiên có trong cơ thể và chỉ nằm trong cơ chứ không trong máu. Do đó, việc truy tìm dấu vết doping trong máu trở nên vô ích.

Cơ thể con người có 3 loại cơ trong cơ thể: cơ trơn, cơ tim và cơ xương (chiếm nhiều nhất, đóng vai trò quan trọng trong vóc dáng cơ thể và teo dần đi với ảnh hưởng tuổi tác). Như vậy, làm thế nào để kích thích phát triển cơ xương chính là chìa khóa vấn đề. Trong thí nghiệm, người ta chọn một virus làm phương tiện vận chuyển gien tổng hợp (giúp phát triển cơ xương) để thâm nhập cơ thể (bởi virus là chuyên gia luồn lách vào tế bào). Đây là kỹ thuật tương tự “tiểu xảo” con ngựa thành Troy.

“Tinh thần Olympic là sự tìm kiếm ở một cách sống, dựa vào niềm hân hoan tìm thấy trong nỗ lực, ở giá trị giáo dục từ một tấm gương đáng noi theo và ở sự tôn trọng các nguyên tắc đạo đức nền tảng”Pierre de Coubertin, người sáng lập phong trào thế vận hội hiện đại.

Một khi lọt vào nhân tế bào chủ, virus sẽ dùng cơ chế phân chia tế bào của mình để sản sinh gien và protein. Để đem lại sự phát triển cơ xương, người ta sử dụng gien nhân tạo có thể sản sinh thành tố phát triển giống insuline (insulinlike growth factor I, IGF-I). Thí nghiệm trên chuột con cho thấy IGF-I đã làm tăng 15% - 30% cơ; đồng thời giúp tăng sức dẻo dai ở chuột già. Điều đáng chú ý nhất là IGF-I chỉ có trong cơ, không có trong máu, do đó không gây hiệu ứng phụ cho tim mạch.

Doping cơ

Giáo sư H. Lee Sweeney cho biết thêm, cơ chỉ là chặng đầu của liệu pháp gien doping. Còn nhiều “cánh cửa” khác. Sức chịu đựng thường bị chi phối bởi lượng oxy vào cơ. Do đó, vấn đề cốt lõi là làm sao bơm ôxy vào cơ. Trong tự nhiên, erythropoietin là protein giúp kích thích phát triển tế bào hồng cầu mang ôxy. Do vậy, người ta đã chế ra erythropoietin nhân tạo. Vài năm gần đây, loại thuốc Epoietin (thường được gọi tắt EPO – dùng trị bệnh thiếu máu) đã được nhiều vận động viên sử dụng, đặc biệt tại vòng đua Tour de France 1998. Dù toàn bộ một đội thi đã bị trục xuất khỏi vòng Tour de France này khi bị phát hiện dùng EPO, nhưng việc dùng EPO đến nay tiếp tục tồn tại.

Trong phòng thí nghiệm, người ta thật ra đã tiến hành thử dùng liệu pháp gien để kích thích tăng erythropoietin trên động vật (khỉ và khỉ đầu chó). Ở cả 2 thí nghiệm, tế bào hồng cầu trong con vật đã tăng gần gấp đôi trong 10 tuần! Tính phức tạp của vấn đề là ở chỗ cùng lúc với mối lo ngại về sự lạm dụng liệu pháp gien cho doping, giới chức thể thao đồng thời cũng thừa nhận rằng liệu pháp gien có thể hữu ích cho việc giúp vận động viên nhanh chóng hồi phục sau chấn thương.

Tuy nhiên, dù như thế nào, bản chất thể thao là tinh thần thượng võ, là tinh thần trong sáng, là tinh thần anh hùng. Thành tích thể thao chẳng có ý nghĩa gì nếu nó là kết quả của sự gian lận và sự khát khao thành tích một cách thiếu tự tin và hèn nhát. Và cũng đừng quên rằng thể thao thế giới đã có không ít bi kịch doping, như trường hợp vận động viên nữ Florence Griffith Joyner (vô địch môn chạy 100 m và 200 m nữ tại Olympic Seoul 1988), chết ở tuổi 38 từ hậu quả của những năm tháng “thể thao doping”.

Thái Nguyễn Ngọc Ngà (Tổng hợp)