Dinh dưỡng khoa học và hợp lý
Các Website khác - 07/02/2006
Trong chính sách quốc gia về dinh dưỡng của Việt Nam, có hai mục tiêu cần đạt được là khắc phục tình trạng suy dinh dưỡng và dinh dưỡng mất cân đối. Việt Nam đã và đang phải đối mặt với các vấn đề dinh dưỡng của thời kỳ chuyển tiếp, đòi hỏi phải có những định hướng hoạt động toàn diện và lâu dài.
Nạn suy dinh dưỡng (SDD) và thiếu vi chất dinh dưỡng

Nhờ những nỗ lực trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo, tình trạng SDD do thiếu protein năng lượng ở nước ta không còn là hiện tượng phổ biến nữa. Vấn đề dinh dưỡng khẩn cấp do thiên tai bất thường được giải quyết nhờ các can thiệp cần thiết ở các vùng có nguy cơ mất an ninh lương thực, thực phẩm. Vấn đề mà xã hội phải đối mặt chính là nguy cơ dinh dưỡng bất hợp lý và việc kiểm soát có hiệu quả tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng.

Theo nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng (Bộ Y tế), tỷ lệ trẻ em SDD tại Việt Nam còn ở mức cao (với 28,4% thể nhẹ cân và 32% thể thấp còi). Bên cạnh đó, thiếu vi chất dinh dưỡng vẫn còn là vấn đề nghiêm trọng: 34,1% số trẻ em dưới năm tuổi bị thiếu máu do thiếu sắt, 10% số trẻ thiếu vitamin A thể tiền lâm sàng. SDD và thiếu vi chất dinh dưỡng có ảnh hưởng xấu đến quá trình phát triển thể lực và trí tuệ của trẻ, đến tương lai của giống nòi. Ðể giải quyết tình trạng này, Việt Nam cần có một chiến lược về thức ăn bổ sung thích hợp, bao gồm việc thực hiện chương trình hành động về nuôi dưỡng trẻ nhỏ hợp lý, nhấn mạnh tới nuôi con bằng sữa mẹ và bổ sung bằng các sản phẩm dinh dưỡng khác; tìm hiểu hiệu quả của cải thiện dinh dưỡng (kể cả việc bổ sung đa vi chất dinh dưỡng) cho người mẹ giúp khắc phục tình trạng SDD bào thai và thấp còi trong quá trình tăng trưởng của trẻ; theo dõi giám sát khuynh hướng tăng trưởng ở trẻ và các yếu tố ảnh hưởng, tìm hiểu nếp sống, phong tục, tập quán ở các vùng dân cư khác nhau để có những giải pháp thích hợp nhằm cải thiện dinh dưỡng bà mẹ, trẻ em.

Việc kiểm soát có hiệu quả tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng được đặt ra hết sức cấp bách. Trong thời đại công nghiệp, các loại thức ăn chế biến sẵn, thực phẩm ăn liền làm tăng nguy cơ mất vi chất dinh dưỡng, đòi hỏi phải có các giải pháp can thiệp phù hợp và đồng bộ. Trước hết là việc bổ sung vitamin A cho trẻ dưới sáu tháng tuổi, và bà mẹ cho con bú nhằm chấm dứt tình trạng khô mắt trẻ em - một nguyên nhân dẫn tới mù lòa, đồng thời tăng cường khả năng miễn dịch, chống nhiễm khuẩn cho trẻ. Hiện nay tình trạng thiếu máu do thiếu sắt là dạng thiếu máu dinh dưỡng phổ biến ở nước ta, chiếm đến 32% số phụ nữ mang thai. Bên cạnh đó, chế độ ăn hằng ngày không đủ dinh dưỡng còn kéo theo nhiều thiếu hụt các vi chất quan trọng như axid folic, kẽm... ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển của bào thai, từ đó gây ra nhiều hậu quả đáng tiếc như thai dị dạng bẩm sinh. Vì thế việc bổ sung đa vi chất dinh dưỡng là hết sức cần thiết, được thực hiện cho phụ nữ từ trước khi có thai, cho trẻ bị tiêu chảy.

Vấn đề dinh dưỡng chuyển tiếp

Xã hội phát triển kéo theo hàng loạt biến đổi trong điều kiện lao động, sinh hoạt, đi lại, ăn uống, tuy là những hành vi cá nhân nhưng bị chi phối bởi mức sống xã hội. Nhịp sống hiện đại tạo cho con người chịu áp lực căng thẳng của công việc nhưng ít hoạt động chân tay trong khi chế độ dinh dưỡng lại không hợp lý, mất cân đối đã là nguyên nhân gia tăng của các căn bệnh thời đại: thừa cân, béo phì, đái tháo đường, rối loại chuyển hóa mỡ, cao huyết áp và các bệnh tim mạch, ung thư, loãng xương, hội chứng chuyển hóa... Ðây là những bệnh mạn tính không lây, mang tính cộng đồng với tỷ lệ ngày càng tăng. Theo một điều tra mới đây, tỷ lệ bệnh đái tháo đường ở nước ta đã vào khoảng 4,5 - 4,9%. Thực trạng này đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ chiến lược là phải lấy dinh dưỡng dự phòng làm mấu chốt. Hãy kịp thời đưa ra những lời khuyên dinh dưỡng hợp lý liên quan văn hóa ăn uống như ăn ít thịt, không ăn phủ tạng động vật, không dùng các phụ gia thực phẩm độc hại, tăng cường ăn cá và các loại thủy hải sản. Tự mỗi người hãy biết thay đổi, điều chỉnh khẩu phần ăn phù hợp, biết tự giám sát tình trạng thừa cân, béo phì. Vai trò của cơ quan quản lý về dinh dưỡng phải kịp thời có những nghiên cứu về thực phẩm, trước hết là các nghiên cứu phân tích thực phẩm ở Việt Nam, nghiên cứu về dinh dưỡng - lipid. Vừa qua, đề tài khoa học và công nghệ cấp Nhà nước mang tên: "Nghiên cứu tình trạng rối loạn dinh dưỡng lipid ở người trưởng thành tại cộng đồng và một số giải pháp can thiệp dự phòng" đã được Bộ trưởng khoa học và Công nghệ ký quyết định đưa vào danh mục các đề tài tuyển chọn thực hiện trong kế hoạch năm 2006 là một minh chứng cụ thể.

CHÂN GIÁC