88% và 12%
Các Website khác - 07/12/2005

88% và 12%
Đình Chúc

88% là số DN khẳng định sẽ mở rộng kinh doanh tại VN trong 3 năm tới, còn 12% là số DN sẽ không mở rộng hoặc chấm dứt hoạt động kinh doanh tại VN. Đó là kết quả điều tra của Ngân hàng Quốc tế Nhật Bản (JIBIC) về môi trường kinh doanh của VN - vừa được đưa ra tại Diễn đàn DN 2005 ngày 5.12 vừa qua.

Có thể đây chỉ là những con số tương đối, nhưng như thế là đáng mừng bởi số DN mặn mà, tiếp tục muốn vào làm ăn ở VN trội hơn nhiều lần số DN muốn thoái lui. Cũng theo JIBIC, sở dĩ số DN muốn ở lại nhiều như thế là bởi họ khá hài lòng với 3 yếu tố: Vị trí địa lý, chính trị ổn định và kiểm soát tỉ giá hối đoái tốt. Ngoại trừ yếu tố sau cùng thì hai yếu tố đầu là những cái thuận cốt tử, không phải quốc gia nào cũng có.

Và ngay tại Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho VN sáng 6.12, Phó Thủ tướng Vũ Khoan tiếp tục làm "hài lòng" thêm nữa cho các nhà đầu tư, khi ông cam kết: VN sẽ tạo ra những thay đổi mạnh mẽ từ việc đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới.

Tuy nhiên, con số 12% tưởng như nhỏ nhoi lại khiến những người có trách nhiệm phải suy nghĩ, bởi những lý do khiến họ thoái lui lại không hề "nhỏ" chút nào: Đó là tình hình thực thi luật pháp yếu, tình trạng quan liêu, tham nhũng, luật lệ quy chế thiếu công bằng, cùng những bất lợi về thuế.

Không phải ngẫu nhiên mà trong khi JIBIC đưa ra 3 cái thuận trên, nhưng cũng không quên nhắc nhở VN có tới 5 cái yếu: Cơ sở hạ tầng, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, hiệu quả của hệ thống hành chính, chi phí nhà ở, hiệu lực của hệ thống toà án. Song, đó là những yếu kém cụ thể, có thể "chỉ mặt vạch tên", còn nỗi lo bao trùm của các nhà đầu tư nước ngoài lại nằm ở tính minh bạch của chính sách và minh bạch ở khâu thực thi.

Trước 600 DN tại Diễn đàn DN 2005 ngày 5.12 vừa qua, ông Joshua Magennis - đại diện Phòng Thương mại và Công nghiệp Australia tại VN (AusCham) thẳng thắn: "Chính phủ VN nên xem xét đưa ra các giải pháp thực tế, thực hiện những cải cách thực sự trong chính sách, hướng tới một khuôn khổ cho đầu tư minh bạch, dễ dự đoán và thực thi hiệu quả".

Và vị đại diện này minh chứng: "Trong khi Chính phủ VN thường xuyên kêu gọi đầu tư hơn nữa vào cơ sở hạ tầng, thì luật pháp về việc này vẫn được xây dựng một cách chậm chạp, đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này vẫn vắng bóng"!

Còn trong thực thi, sự thiếu minh bạch đã được ông J. Magennis đưa ra dẫn chứng khá thú vị: Quan hệ với thuế và hải quan ở VN vẫn dựa trên mối "quen biết" hơn là dựa trên cơ sở luật pháp.

Có thể những lời "nói thật" của giới DN (cả trong và ngoài nước) vẫn khiến ai đó "mất lòng", nhưng quan trọng hơn - nó hoàn toàn mang thiện ý - để môi trường đầu tư của VN ngày càng tốt hơn. 12% số DN muốn thoái lui khỏi thị trường VN vào thời điểm này không phải là con số đáng lo ngại.

Song nếu những yếu kém không hề "nhỏ" nói trên chậm được khắc phục, thì lo ngại lớn nhất lại nằm ở chỗ: Sẽ còn bao nhiêu DN trong số 88% kia nản chí, thoái lui và xa hơn - sẽ có bao nhiêu DN mới tiếp tục muốn đến VN để làm ăn?