Khi đó, "những người lao động Việt Nam nhất quyết đặt kháng chiến lên trên hết, dốc toàn lực vào kháng chiến. Ở đại hội, chúng ta không diễn thuyết, chúng ta chỉ bàn công việc, trong đó tự nói lên lòng yêu Tổ quốc thật thà và sâu nặng nhất" (Thép Mới).
Bối cảnh diễn ra đại hội khi ấy, sau thắng lợi của chiến dịch Biên Giới, vùng tự do, căn cứ của kháng chiến mở rộng thênh thang. Thế và lực của ta đã khác, lớn mạnh và đi lên phơi phới. "Bộ máy kháng chiến đã lồ lộ trong ánh nắng ban ngày" cùng bước hành quân rầm rập của bộ đội, dân công.
Nơi tổ chức Ðại hội là xã Kim Quang, sau này tách ra thành hai xã Kim Bình và Vinh Quang. Từ đây nối liền với an toàn khu Sơn Dương và thông về Ðịnh Hóa (Thái Nguyên). Ðịa thế đẹp mà khuất nẻo, an toàn, được bao bọc bởi lòng dân gắn bó với cách mạng từ thuở còn trứng nước, chung thủy chở che.
Ông Trần Văn Phan, 72 tuổi, người dân tộc Tày, từng tham gia bảo vệ Ðại hội. Ông bồi hồi kể: "Ngày đó, tôi mới 17 tuổi, được tham gia bảo vệ vòng ngoài. Vui lắm. Trời rất rét, tôi chỉ mặc một chiếc áo chàm, cầm mã tấu đi tuần tra suốt đêm mà không thấy lạnh". Ðồi Nà Loáng là nơi diễn ra Ðại hội. Cả một khu rừng rộng lớn, theo lời kể của nhà báo Thép Mới khi đó, "nhờ tay anh chị em công nhân và nghệ sĩ dốc lòng yêu Ðảng, đã biến thành một công trường hùng vĩ". Chỉ huy trưởng là đồng chí Hoàng Tùng và kiến trúc sư Hoàng Như Tiếp thiết kế, tổ chức thi công. 55 năm qua, các công trình tranh tre nứa lá không trụ được với thời gian, nhưng dấu tích vẫn được nâng niu, trân trọng, đặt những tấm bia ghi rõ từng vị trí. Chỗ này là hội trường lớn, cao tới hơn 10 mét, có cả tầng gác xép, chỗ dành cho các phóng viên theo dõi Ðại hội. Ðây từng là nơi ở và làm việc của Bác Hồ trong thời gian diễn ra Ðại hội. Gần đó là nơi làm việc của đồng chí Trường Chinh. Có cả nơi đón các đoàn đại biểu quốc tế, đại biểu Nam Bộ, lặn lội vượt suối băng rừng về dự. Ðồi cọ bạt ngàn, lớp này qua lớp khác xòe bóng chở che khu di tích. Chúng tôi đứng lặng trước cây sui cổ thụ, thân cao vút, mà hình dung chiếc chăn sui làm từ lớp vỏ cây ấm lòng những đêm đông giữa rừng Việt Bắc.
Sau 55 năm, cảnh sắc đã có nhiều đổi thay. Ðứng trên đồi Nà Loáng, phóng tầm mắt ra xa xa, thấy ngút ngàn xanh của rừng và bóng núi. Sông Gâm chảy hiền hòa, cần mẫn xuôi các bè gỗ nứa và thuyền đầy ắp mía. Bên các ruộng bậc thang, thấp thoáng dưới bóng tre xanh, bóng cọ, những nếp nhà dân, mái đỏ ngời trong nắng.
Chủ tịch xã Hà Công Hoàn, người dân tộc Tày, tự hào về truyền thống cách mạng: Năm 1951, Kim Bình thưa thớt, mới chỉ có 40 hộ dân. Rừng rậm rạp, đi lại rất khó khăn. Nay cuộc sống đã nhộn nhịp, đông vui. Toàn xã có 4.600 nhân khẩu. Ðồng bào thuộc năm dân tộc anh em: Dao, Tày, Kinh, Hoa và Cao Lan chung sống thuận hòa, cùng góp sức xây dựng quê hương. Trên diện tích 4.136 ha, chủ yếu là đất rừng, diện tích trồng lúa không nhiều, nhưng trên những ruộng bậc thang, sự cần mẫn của đồng bào và trình độ canh tác ngày càng tiến bộ, tạo nên mức bình quân lương thực người dân trong xã lên tới 600 kg thóc/năm, góp phần đưa huyện Chiêm Hóa trở thành vựa lúa của tỉnh Tuyên Quang. Cái đói, nỗi lo truyền kiếp của người vùng cao đã lùi xa, bây giờ, người dân Kim Bình tính đến chuyện xa hơn: sản xuất hàng hóa, phát triển công nghiệp và du lịch. Ân nghĩa với vùng quê cách mạng, Ðảng, Nhà nước quan tâm đầu tư các công trình giao thông, thủy lợi, đẩy mạnh sản xuất để ổn định và cải thiện đời sống đồng bào các dân tộc trong xã. Chỉ trong năm năm qua, nguồn vốn thuộc chương trình 135 dành cho xã Kim Bình đạt tới 3 tỷ 328 triệu đồng, cùng các nguồn vốn đầu tư cho lâm nghiệp do tỉnh hỗ trợ và sự đóng góp của dân đã tạo nên sự đổi thay diện mạo và đời sống người dân ở cả 13 thôn bản. Toàn xã có năm trường mầm non, tiểu học, hoàn thành phổ cập phổ thông cơ sở; 65% số dân ở các thôn bản có điện sinh hoạt.Chúng tôi đến trụ sở ủy ban xã đúng vào dịp khai giảng lớp tin học cho học sinh. Nhìn những gương mặt rạng ngời, háo hức của các em càng hiểu vì sao lớp trẻ ở đây gắn bó với quê hương.
55 năm trước, khi đến công trường xây dựng hội trường là nơi tổ chức Ðại hội đang ngổn ngang tre nứa, nhà báo Thép Mới dự đoán: "Chốn ấy rồi đây bước vào lịch sử, như Tân Trào xưa mở nước, như rừng Trần Hưng Ðạo năm nọ đã chào mừng quân đội sơ sinh". Phải rồi, đến nay, các thời khắc và địa danh lịch sử ấy đã trở nên gần gũi, thiêng liêng, được nâng niu, tạc vào lòng dân sâu đậm.
|