Cây bạch chỉ
Các Website khác - 30/07/2005

"Có người giới thiệu với tôi là dùng vị bạch chỉ để chữa bệnh tràng nhạc và ghẻ lở; nhưng khi đến hiệu thuốc hỏi mua lại nghe nói có nhiều loại bạch chỉ. Xin bác sĩ cho biết thêm về loại cây này".

Trả lời:

Bạch chỉ có tên khoa học Angelica dahurica Benth. et Hook và Angelica anomala Lallem. Vị bạch chỉ (Radix Angelicae) là rễ phơi hay sấy khô của cây bạch chỉ (Angelica dahurica Benth. et Hook) hoặc của cây xuyên bạch chỉ (Angelica anomala Lallem).

Cây bạch chỉ (Angelica dahurica) còn gọi là hàng châu bạch chỉ, là một cây sống lâu năm, cao 1-1,5 m, đường kính thân có thể tới 2-3 cm. Thân rỗng, mặt ngoài màu tím hồng, phía dưới thân nhẵn, không có lông, nhưng phía trên gần cụm hoa thì có lông ngắn. Lá phía dưới to, có cuống dài, phiến lá 2-3 lần xẻ lông chim, thùy hình trứng hay hình trứng dài, dài 2-6 cm, rộng 1-3 cm, mép có răng cưa. Lá phía trên nhỏ hơn, toàn bộ cuống lá phát triển thành bẹ bao ôm lấy thân, hai mặt đều không có lông, nhưng trên đường gân của mặt trên có lông ngắn. Cụm hoa hình tán kép mọc ở kẽ lá hay đầu cành. Cuống tán dài 4-8 cm, cuống tán nhỏ dài 1cm, hoa màu trắng, quả dài chừng 6mm, rộng 5-6 mm. Cây này cho vị hàng châu bạch chỉ hay hương bạch chỉ.

Cây xuyên bạch chỉ (Angelica anomala) cũng là một cây sống lâu năm, cao hơn cây bạch chỉ 2-3 cm. Đường kính thân nhỏ hơn, chỉ chừng 1 cm. Lá mọc so le cũng 3 lần xẻ lông chim, thùy có cuống dài chừng 3 cm. Những đặc điểm khác tương tự loài trên.

Nói tóm lại cây bạch chỉ hàng châu thường thấp hơn 1-1,5 m, thân to hơn (2-3 cm). Phiến của thùy hẹp lại thành cuống, còn xuyên bạch chỉ có thùy mang cuống rõ rệt.

Bạch chỉ đã được di thực vào nước ta có kết quả, cây mọc tốt cả ở đồng bằng và những vùng núi cao mát. Nhưng giống thì chỉ mới để được ở miền núi cao, lạnh. Tại Tam Đảo, cây được trồng vào tháng 1-2, tháng 4-5 năm sau ra hoa, nhưng có những cây trồng vào tháng 7-8 năm trước thì tháng 4-5 năm sau cũng ra hoa một lúc với cây trồng tháng 1-2. Vào mùa thu, khi lá úa vàng, người ta đào lấy rễ, cắt bỏ thân và rễ con, rửa sạch đất sao đáo. Có nơi cho vào vại có vôi, đậy kín một tuần rồi mới lấy ra phơi khô; có nơi đem phơi ngay, nếu trời mưa thì sấy trong lò, sau đó cạo bỏ vỏ mỏng ngoài.

Bạch chỉ mới thấy dùng trong phạm vi Đông y. Đây là vị thuốc có vị cay, tính ôn, vào 3 kinh phế, vị và đại tràng; có tác dụng phát biểu khứ phong, thẩm thấp, hoạt huyết sinh cơ, giảm đau, giúp thần kinh hưng phấn, làm cho huyết trong toàn thân vận chuyển mau chóng, làm thuốc thư gân, ra mồ hôi. Nó cũng chữa nhức đầu, răng đau, các bệnh về đầu, mặt, xích bạch đới, thông kinh nguyệt, dùng ngoài có thể chữa sưng vú, tràng nhạc, ghẻ lở, đỡ đau hút mủ.

Thường bạch chỉ được dùng làm thuốc giảm đau, chữa nhức đầu, cảm mạo, hoa mắt, đau răng; còn dùng làm thuốc cầm máu, đại tiện ra máu, chảy máu cam. Ngày dùng 5-10 g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột chia làm nhiều lần uống, mỗi lần uống 1-2 g.

Đơn thuốc có bạch chỉ dùng trong nhân dân:

Trẻ em nóng sốt: Nấu nước bạch chỉ, tắm thật nhanh ở nơi kín gió.

Chữa chứng hôi miệng: Bạch chỉ 30 g, xuyên khung 30 g. Hai vị tán nhỏ, dùng mật viên bằng hạt ngô. Hàng ngày ngậm thuốc này, mỗi ngày ngậm chừng 2-3 viên.

Nhân dân ta còn dùng một vị thuốc với tên nam bạch chỉ, thực ra đó là rễ của cây mát rừng - Millettia pulchra Kurz, thuộc họ Cánh bướm (Papilionaceae). Dùng sắc cùng một số vị thuốc khác chữa đau bụng, tiêu chảy.

Trong một số sách thuốc cũ của Trung Quốc, người ta giới thiệu bạch chỉ là rễ Angelica glabra Makino hay Angelica formosana Boiss, họ Hoa tán; nhưng những tài liệu mới nhất thường thống nhất các tên đã giới thiệu ở trên.

GS Đỗ Tất Lợi, Sức Khỏe & Đời Sống