Chủ động phòng đại dịch cúm gia cầm
Các Website khác - 26/10/2005
Dưới đây là một số thông tin cơ bản về dịch cúm, cách phòng chống.

Biểu hiện bệnh

Bệnh cúm do virus có bốn biểu hiện chủ yếu:

thứ nhất, hội chứng nhiễm trùng xuất hiện bất chợt, dấu hiệu chính là sốt;

thứ hai, triệu chứng thần kinh cơ năng: đau nhức đầu, nhức hốc mắt và toàn thân, cảm giác gây kiệt sức;

thứ ba, tổn thương đường hô hấp với mức độ nặng nhẹ khác nhau từ viêm phổi đến sổ mũi thông thường;

thứ tư, đó là dấu hiệu bội nhiễm các tạp trùng, gây nhiều biến chứng do sự phát triển của các loại vi khuẩn trên nền một môi trường tế bào đường hô hấp bị phá hủy và vỡ do virus cúm.

Chính vì vậy, bên cạnh những thể bệnh cúm thông thường, chúng ta có thể gặp những thể bệnh cúm nặng, do bội nhiễm và biến chứng gây suy hô hấp cấp, biến chứng viêm cơ tim, viêm phổi, viêm tai, não,… và nặng có thể gây tử vong. Người ta nhận thấy, virus cúm type A thường gây đại dịch với chu kỳ 7-8 năm; cúm type B gây dịch chu kỳ 5-7 năm và nhóm C gây dịch nhỏ.

Miễn dịch đặc biệt thường xuất hiện sau mỗi vụ dịch với nhóm virus đó, nhưng thực tế đáng tiếc là: miễn dịch có được sau đợt dịch vừa qua nếu có hình thành cũng không thể đề kháng được nếu có biến thể virus cúm mới ở đợt dịch sau. Dịch bệnh này thường xuất hiện vào mùa lạnh, ẩm.

Cách phòng ngừa và đối phó

Cần chấp hành chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ trong kế hoạch hành động phòng chống dịch cúm và thực hiện theo phân công ở từng cấp. Chẩn đoán phát hiện sớm vùng có ổ dịch, thông báo kịp thời, cách ly và xử lý ổ dịch tại chỗ (khu trú nguồn truyền nhiễm).

Tránh di chuyển dân cư vùng dịch mà phải xử lý tại chỗ (nhân lực, vật lực phải được chuẩn bị sẵn sàng theo cơ số phù hợp để điều trị kịp thời cho người bệnh tại cơ sở và thao tác dập dịch tại chỗ): có 3 yếu tố trong ổ dịch cúm: nguồn bệnh (bệnh nhân), điều kiện lây bệnh (môi trường, không khí ô nhiễm, hơi nhiễm và chất thải hô hấp của bệnh nhân bắn ra xung quanh) và cộng đồng xung quanh người bệnh có khả năng bị nhiễm virus.

Với bệnh nhân nghi cúm thì đương nhiên phải cách ly điều trị đặc biệt, tốt nhất là tại bệnh viện địa phương, bệnh nhân phải được khám và áp dụng kỹ thuật chẩn đoán sớm, báo cáo khẩn cấp về tình hình ổ dịch cho tuyến trên. Bệnh nhân nhẹ tại các gia đình có thể tạm cách ly tại nhà, nhưng những người phục vụ, tiếp xúc cần có biện pháp trang bị bảo hộ phù hợp. Găng tay, khẩu trang, quần áo phục vụ phải được sử dụng đúng quy cách và được xử lý vô khuẩn đúng trước và sau khi sử dụng.

Người tiếp xúc với bệnh nhân thường là nguyên nhân làm cho ổ dịch lan rộng và đó là đối tượng thứ hai phải đối phó tại ổ dịch cần đặc biệt chú ý vì những người này có thể mang virus, đang ủ bệnh, họ dễ bị coi nhẹ, vẫn đi lại tự do, cho nên người này phải được điều trị dự phòng bằng Tamiflu và dự phòng bằng các thuốc sát khuẩn cho đường hô hấp dạng viên hay dạng khí dung.

Tóm lại, chúng ta cần phải có chuẩn bị cơ sở điều trị tại chỗ đủ năng lực và đủ điều kiện khi dịch xảy ra tại địa phương. Với người tiếp xúc cần phải được chăm sóc dự phòng theo quy định nghiêm ngặt. Cần phải có biệp pháp khử khuẩn trong không khí như: dùng tia cực tím khử trùng tại bệnh viện, phòng, nhà có bệnh nhân.

Cần mở cửa thoáng khí, nhiều ánh sáng mặt trời nhưng không nên để đầu hướng gió so với dân cư và nên có khoảng cách đủ rộng để vùng không khí ô nhiễm virus nếu lan ra sẽ bị pha loãng và được diệt khuẩn nhờ ánh nắng mặt trời và oxy có trong khí trời tự nhiên. Đồ dùng của bệnh nhân cần được lau chùi vô khuẩn bằng lau rửa, luộc sấy hấp… và thái độ xử trí với ba yếu tố này trong ổ dịch cần phải tiến hành song song.

Bác sĩ Nguyễn Doãn Thành
Theo Theo Sài Gòn giải phóng