Phòng, chống bệnh "chân, tay, miệng"
Các Website khác - 08/04/2006
Tay của trẻ bị bệnh.
Bệnh “chân, tay, miệng” hoàn toàn khác với bệnh lở mồm, long móng ở gia súc. Bệnh thường có biểu hiện lâm sàng nhẹ, khỏi sau bảy đến mười ngày, hiếm khi xảy ra biến chứng. Tuy nhiên cũng có trường hợp nặng có biểu hiện viêm màng não với các triệu chứng sốt, đau đầu, cứng cổ hoặc đau lưng.
Hiện nay, bệnh "chân, tay, miệng" đã và đang xảy ra tại một số địa phương, nhất là các tỉnh phía nam. Bệnh do nhóm virus đường ruột gây nên, theo kết quả xét nghiệm của Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh đã khẳng định do virus Entero 71. Bộ Y tế đã cử các chuyên gia phối hợp các viện vệ sinh dịch tễ, Pasteur khu vực để triển khai các biện pháp phòng, chống bệnh. Người dân cũng cần hiểu biết nhất định về căn bệnh này để tự phòng, chống có hiệu quả.

Bệnh "chân, tay, miệng" do enterovirus phân bố khá phổ biến tại nhiều nước trên thế giới và thường xảy ra tại các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới. Bệnh xảy ra chủ yếu ở trẻ em và biểu hiện ở trẻ nam rõ hơn trẻ nữ.

Bệnh có biểu hiện sốt sưng miệng, nổi ban có bọng nước. Bệnh thường bắt đầu bằng sốt nhẹ, kém ăn, mệt mỏi và sưng họng. Một đến hai ngày sau có những chấm đỏ có bọng nước rồi vỡ thành vết loét, các vết này thường nằm ở lưỡi, lợi và bên trong má. Các tổn thương trên da cũng xuất hiện sau một đến hai ngày, biểu hiện là các vết đỏ, có thể có bọng nước, không ngứa và thường nằm ở lòng bàn tay, gan bàn chân.

Bệnh tay, chân và miệng hoàn toàn khác với bệnh chân và miệng (còn gọi là lở mồm, long móng) ở trâu, bò, cừu và lợn. Mặc dù nhiều người nhầm hai bệnh với nhau do tên gọi gần giống nhau nhưng bệnh do hai loại virus hoàn toàn khác nhau gây nên.

Bệnh "chân, tay, miệng" thường có biểu hiện lâm sàng nhẹ, khỏi sau bảy đến mười ngày, hiếm khi xảy ra biến chứng, tuy nhiên cũng có trường hợp nặng có biểu hiện viêm màng não với các triệu chứng sốt, đau đầu, cứng cổ hoặc đau lưng. Rất hiếm khi có biến chứng viêm não hoặc liệt mềm cấp.

Bệnh "chân, tay, miệng" là bệnh truyền nhiễm, lây từ người sang người do tiếp xúc trực tiếp với nước bọt, dịch tiết của mũi, họng, dịch của các bọng nước khi vỡ hoặc qua đường phân, miệng. Khả năng bệnh lây truyền cao nhất trong vòng một tuần đầu kể từ khi mắc bệnh, tuy nhiên người ta thấy virus được đào thải qua phân nhiều tuần sau đó; cũng tìm thấy virus tồn tại trong nước, đất, rau. Người bệnh cũng có thể mắc bệnh do ăn phải thức ăn, nước uống bị nhiễm virus.

Ðến nay, chưa có thuốc kháng virus đặc hiệu điều trị bệnh. Vì vậy chủ yếu là các biện pháp điều trị triệu chứng để hạ sốt, giảm đau do các vết loét gây nên và điều trị các biến chứng nếu có. Ðồng thời các biện pháp dự phòng đặc hiệu cũng chưa có, nhưng nguy cơ lây nhiễm có thể giảm đáng kể nếu thực hiện tốt các biện pháp:

1 - Vệ sinh cá nhân như rửa tay thường xuyên sau những lần thay tã cho trẻ; trước, sau khi nấu ăn, chuẩn bị thức ăn, trước khi ăn, khi đi vệ sinh, khi tay bẩn và nhất là rửa tay thường xuyên khi trong gia đình có người ốm, bệnh.

2 - Rửa sạch các dụng cụ, đồ chơi có thể bị nhiễm virus bằng nước và xà phòng, rồi khử trùng bằng cloramin B 5%.

3 - Hạn chế thấp nhất việc tiếp xúc trực tiếp như hôn, sử dụng chung các dụng cụ với trẻ bị bệnh, người bệnh và một số biện pháp hạn chế lây truyền theo đường phân, miệng như ăn chín, uống sôi.

4 - Cách ly người bệnh, trẻ bệnh trong vài ngày đầu mắc bệnh cũng có thể làm giảm đáng kể khả năng lây nhiễm.

Mọi người cần chú ý rửa tay phải đúng cách; thực hiện đầy đủ các bước khi lau, rửa sạch các dụng cụ, bề mặt và trong quá trình khử trùng.