Xác lập cơ chế ba bên để "ngừa" các cuộc đình công
Các Website khác - 27/03/2006

(VietNamNet) - Kinh nghiệm của các nước trong việc ngăn ngừa các cuộc đình công là thiết lập cơ chế ba bên cùng đối thoại - ông Lê Thanh Khương, Trưởng Ban Pháp Luật của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trả lời phỏng vấn VietNamNet về "bài toán" giải quyết các cuộc đình công đang có xu hướng gia tăng tại Việt Nam.

Soạn: AM 730235 gửi đến 996 để nhận ảnh này

Ông Lê Thanh Khương, Trưởng Ban Pháp luật của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Ảnh Nguyệt Minh

Ông Lê Thanh Khương cho biết, chỉ trong vòng gần 2 tháng, từ 28/12/2005 đến 24/12/2006, đã liên tiếp xẩy ra 150 cuộc đình công với sự tham gia của hơn 140 nghìn công nhân lao động, nhiều hơn số cuộc đình công của cả nước trong năm 2005 (147). Các cuộc đình công chủ yếu diễn ra trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương. Nếu năm 2005, các cuộc đình công xảy ra chủ yếu ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) thì đầu năm nay, xu hướng của các cuộc đình công bắt đầu chuyển mạnh sang các doanh nghiệp trong nước.

Yêu sách của công nhân lao động trong các vụ đình công là đòi được nâng lương tương ứng với các doanh nghiệp FDI, cải thiện điều kiện lao động, thực hiện chế độ thưởng tết, phản đối việc vi phạm pháp luật của chủ sử dụng lao động...

"Không ai dại gì lấy đá đập vào chân mình"

- Vì sao thời gian gần đây lại xảy ra nhiều cuộc đình công như vậy, thưa ông?

- Tôi nghĩ có 5 nguyên nhân căn bản dẫn tới việc đình công dồn dập trong thời gian ngắn trở lại đây. 

Thứ nhất là do chính sách về mức lương tối thiểu trong các doanh nghiệp FDI quá thấp, tồn tại quá lâu, quá lạc hậu, không phù hợp với mức trượt giá sinh hoạt và chậm được điều chỉnh theo quy định tại Điều 56 Bộ Luật lao động. 

Tính từ năm 1999 (năm Bộ lao động Thương binh & Xã hội ban hành Quyết định số 708/1999 đến tháng 1/2006, mức tăng giá hàng tiêu dùng đã là 28%, tỷ giá hối đoái tăng 14%, trong khi đó, tiền lương tối thiểu trong các doanh nghiệp FDI không được điều chỉnh đã chất thêm gánh nặng thiếu thốn, khó khăn về đời sống vật chất lẫn tinh thần cua CNLĐ trong các KCN, KCX, nhất là các doanh nghiệp giày da, may mặc, chế biến thuỷ sản...

Liên tiếp trong 3 năm trở lại đây, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chúng tôi cũng đã 3 lần kiến nghị với Chính phủ giải quyết tình trạng trên. Chính phủ  đã chỉ đạo các cơ quan chức năng liên quan nghiên cứu xử lý. Tuy nhiên đến nay, sự việc vẫn chưa có gì tiến triển.

Thứ hai là chủ sử dụng lao động vi phạm pháp luật lao động. Chẳng hạn, không ký hợp đồng lao động, trả lương quá thấp, nợ lương, chậm trả lương, không trả đầy đủ tiền làm thêm giờ, tiền thưởng theo quy định của Bộ Luật lao động hoặc thoả ước lao động tập thể; không tham gia chế độ BHXH, BHYT cho người lao động.

Điều kiện lao động không đảm bảo, chất lượng bữa ăn kém, định mức lao động quá cao, tăng ca liên tục, nhiều trường hợp hành xử thô bạo...  cũng là nguyên nhân dẫn tới các cuộc đình công. 

Thứ tư là cơ quan quản lý Nhà nước về lao động hoạt động kém hiệu quả dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật của người sở hữu lao động phổ biến, như tôi đã nói ở trên. Phổ biến và kéo dài, không xử lý; thanh tra kiểm tra yếu kém, vô hình chung, chúng ta đã buông lỏng quản lý, dung túng cho người sử dụng lao động, các nhà đầu tư vi phạm pháp luật lao động. Chỉ thị 06 của Thủ tướng cũng đã đánh giá đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng đình công. 

Ngoài lý do quy định pháp luật về đình công còn nhiều bất cập, không thực tiễn; trình tự thủ tục thì phức tạp, không điều chỉnh được tình hình đình công trên thực tế, không thể thực hiện được, còn có nguyên nhân không kém phần quan trọng là chưa phát huy vai trò của các tổ chức công đoàn cơ sở ở nhiều doanh nghiệp, cả khu vực FDI lẫn doạnh nghiệp tư nhân trong nước. Luật lao động quy định sau 6 tháng thành lập doanh nghiệp thì phải tạo điều kiện cho Công đoàn cơ sở thành lập tuy nhiên về phía chủ sở hữu lao động, kể cả doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài cũng như doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước, họ đều cố trình lẩn tránh, lần lữa không muốn lập tổ chức công đoàn. 

Những nơi có tổ chức công đoàn thì phần lớn hoạt động yếu kém, mờ nhạt, không nắm vững tâm tư nguyện vọng của công nhân lao động cho nên không bảo vệ được người lao động, không đại diện được quyền lợi của họ. 

- Đâu là nguyên nhân khiến tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp hoạt động mờ nhạt, kém hiệu quả?

- Trên thực tế, người làm Chủ tịch Công đoàn lại đồng thời vừa là Phó Giám đốc hoặc quản đốc phân xưởng, thậm chí còn là Giám đốc điều hành, ăn lương của ông chủ 5 triệu, 6 hay 7 triêu, thậm chí có người tôi biết được trả tới 15 triệu. Luôn luôn bên cạnh ông chủ thì làm gì họ có thể hy sinh quyền lợi của mình để bảo vệ người lao động, mà tôi thường ví là chẳng ai dại gì mà lấy đá đập vào chân mình.

Thứ nữa là Công đoàn Việt Nam nó khác với công đoàn các nước khác là thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ, Nếu nó muốn đình công thì phải báo cáo với công đoàn cấp trên, thế rồi Công đoàn địa phương phải báo cáo với Công đoàn Trụng ương. Để thực hiện đủ các thủ tục rườm rà đó thì khó mà thực hiện đình công được.

Đặc biệt, theo quy định, muốn tổ chức đình công theo luật dứt khoát phải báo cáo với Đảng và nếu như ở doanh nghiệp ấy có chi bộ Đảng thì Công đoàn dưới sự lãnh đạo của Đảng phải báo cáo với đảng bộ ở đó. Đảng bộ là ai? Bí thư là ai? Thường là Giám đốc với Phó Giám đốc. Chính cơ chế "vừa đá bóng vừa thổi còi" này khiến họ không thể tổ chức được các cuộc đình công theo hướng luật hoá.

Bất bình đẳng giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước

- Như ông vừa nói, tình trạng chủ sở hữu lao động vi phạm Luật lao động là hiện tượng phổ biến. Chẳng lẽ, ta không có điều khoản ràng buộc nào đối với các nhà đầu tư trong vấn đề này, ngay từ khi ký kết mời gọi đầu tư, hợp tác?

- Chính sách vĩ mô, chính sách rải thảm của ta đối với nhà đầu tư nước ngoài không chú ý đến điều đó, ít ra là cũng phải quy định " anh" phải phối hợp với địa phương, với các tổ chức liên quan để chăm lo quan tâm đến đời sống người lao động chứ, như nhà ở chẳng hạn. Chứ như hiện tại, công nhân đầu tắt mặt tối suốt ngày mà chỉ được trả đồng lương còm như thế, ăn uống kham khổ, đời sống văn hoá tinh thần nghèo nàn...! Chúng tôi đang kiến nghị để có một chiến lược xây dựng đối với giai cấp công nhân để tác động với Chính phủ có một chính sách dài hơi, vừa phát triển kinh tế nhưng cũng phải quan tâm đến chính sách xã hội đối với người lao động, chứ không thể để chuyện như thế này kéo dài mãi được.

- Số liệu mà ông vừa dẫn chứng cho thấy, xu hướng của các cuộc đình công lại đang chuyển dần sang khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước. Vì sao thưa ông?

- Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 03 về nâng lương tối thiểu cho công nhân lao động tại khu vực doanh nghiệp FDI, lập tức lao động thuộc khu vực doanh nghiệp trong nước cũng đình công đòi tăng lương. Lý do mà họ đưa ra là cùng thời gian làm việc, năng suất tương đương, nhưng mức lương người lao động làm cho doanh nghiệp Nhà nước lại thấp hơn nhiều so với mức lương tối thiểu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Thậm chí, có lần chúng tôi đi tìm hiểu tình hình tại các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Đồng Nai, Bình Dương..., nhiều lao động níu tay chỉ sang cơ sở sản xuất bên cạnh, chỉ cách đúng bờ tường, bảo: "Chú nói xem, cứ bảo tư bản là bóc lột, thế mà lương công nhân của họ còn cao hơn bọn cháu làm cho khu vực doanh nghiệp Nhà nước!"

Một vấn đề nữa là hiện Nhà nước vẫn ưu tiên, không quy định thu 2% (trên tổng quỹ lương) phí công đoàn của khu vực FDI mà chỉ áp dụng với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước, doanh nghiệp Nhà nước, các cơ sở hành chính sự nghiệp khác. 

Cả hai sự việc trên tạo nên sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp trên cùng một sân chơi, hay nói một cách khác là có sự phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI và đây cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới các cuộc đình công tràn lan. Tôi nghĩ, đã đến lúc phải xoá bỏ sự bất bình đẳng này.

Thiết lập cơ chế "ba bên" cùng đối thoại

Theo ông, đâu là giải pháp để ngăn ngừa tận gốc các cuộc đình công?

- Chúng tôi đã kiến nghị với Đảng để định hướng Chính phủ phải xây dựng, xác lập cho được cơ chế 3 bên. Cơ chế mở đó bao gồm đại diện một bên là Chính phủ, một bên là giới chủ và một bên là giới thợ. Và 3 cơ quan này người ta phải được ngồi với nhau, bàn và đi đến quyền quyết định những vấn đề liên quan đến quan hệ lao động, đó là những vấn đề về việc làm, tiền lương, những vấn đề về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

Các nước người ta vẫn gọi đó là cơ chế đối thoại và hợp tác 3 bên mà trong đó, công đoàn Việt Nam cũng phải có quyền tham quyết chứ không chỉ đóng vai trò tham gia như hiện nay. Ở các nước, thường người ta quy định những tháng cuối năm, các cơ quan này phải ngồi với nhau. Người ta còn có Uỷ ban về vấn đề việc làm, Uỷ ban về vấn đề tiền lương, họ căn cứ trên mức doanh thu, hiệu quả kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp trong năm để quyết định khung mức lương, thưởng hợp lý, phù hợp cho người lao động.

Ngoài ra, chúng tôi cũng đã và đang kiến nghị Chính phủ phải có chỉ đạo đối với các bộ, ngành liên quan sớm nghiên cứu đề xuất phương án điều chỉnh chính sách tiền lương cho người lao động chứ không thể kéo dài mãi tình trạng này.

- Nhưng liệu có khả thi không, vì như ông vừa nói, Tổng Liên đoàn đã 3 lần gửi kiến nghị với Chính phủ nhưng chưa lần nào có kết quả?

- Trước đó thì Chính phủ bảo đang nghiên cứu, tức là Bộ Lao động đang nghiên cứu để trình Chính phủ. Thế nhưng mãi đến giờ chưa thấy. Theo thông tin tôi biết, dự kiến phải đến 2008 mới có thể kéo bằng được mức lương của khu vực doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước.

Xin cảm ơn ông!

  • Nguyệt Minh (thực hiện)