Nhận thức và hành vi nguy cơ dễ nhiễm HIV của người nghiện ma tuý
Các Website khác - 25/03/2004

Nhận thức và hành vi nguy cơ dễ nhiễm HIV
của người nghiện ma tuý

 Lê Ngọc Yến, Chung á
y ban Quốc gia Phòng chống AIDS
Nguyễn Chí Phi - Trường Đại học Y khoa Hà Nội

Tóm tắt

Qua nghiên cứu trên 505 người nghiện ma túy bao gồm 149 người nhiễm HIV và 61 bệnh nhân AIDS có tiền sử nghiện ma túy tại 3 Trung tâm cai nghiện thuộc tỉnh Khánh hòa, Đắc Lắc và Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 8-10 nǎm 1997, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:

1. Hầu hết đối tượng nghiên cứu có độ tuổi trung bình trên 30. Có sự khác nhau về độ tuổi giữa các nhóm: 60,9% nhóm nghiện ma túy (NMT) không nhiễm dưới 30 tuổi trong khi 87,9% nhóm NMT nhiễm HIV và 95,1% nhóm bệnh nhân AIDS trên 30 tuổi. 69,7% đối tượng nghiên cứu có trình độ vǎn hóa phổ thông trung học. Hầu hết là lao động giản đơn và buôn bán nhỏ, có người thất nghiệp không việc làm. 22% ly hôn, ly thân hoặc góa. 37, 8% có người thân trong gia đình cũng nghiện ma túy.

2. Tỉ lệ người nghiện ma túy hiểu biết về cách phòng nhiễm HIV cao: phải dùng bơm kim tiêm sạch (70,6%) và dùng bao cao su khi quan hệ tình dục (80,9%).

3. Về thực hành an toàn còn thấp: 57,1% vẫn dùng chung bơm kim tiêm và chỉ có 20,6% dùng bơm kim tiêm một lần; 34,9% dùng bao cao su khi quan hệ tình dục , trong đó chỉ có 45,6% dùng thường xuyên và tỉ lệ dùng với gái mại dâm cao hơn.

Đặt vấn đề

Hiện nay, tình trạng nghiện ma túy đã tồn tại và phát triển ở tất cả các tỉnh thành trong cả nước. Theo báo cáo của Cục Phòng chống Tệ nạn xã hội thuộc Bộ Lao động Thương binh Xã hội, nǎm 1997, cả nước ước tính có 132.929 người nghiện ma túy.

Tính đến tháng 11/1997, số báo cáo nhiễm HIV trong cả nước là 7.118 người, 1.038 bệnh nhân AIDS và 542 người đã tử vong vì AIDS. Điều đáng lưu ý là đa số người nhiễm HIV thuộc nhóm nghiện ma tuý, chiếm trên 65%. Hiện nay số đối tượng nghiện được điều trị cai tại các Trung tâm cai nghiện khá nhiều và trong đó có một số người đã nhiễm HIV.

Việc nghiên cứu đánh giá thực trạng kiến thức và hành vi của các đối tượng nghiện ma túy bao gồm cả người HIV dương tính tại các Trung tâm trên là cần thiết giúp đề xuất các biện pháp can thiệp và xây dựng mô hình quản lý phù hợp. Do vậy, với thời gian hạn chế, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu này nhằm mục đích:

1. Mô tả một số đặc điểm xã hội học của người nghiện ma túy

2. Đánh giá hiểu biết về HIV/AIDS của nhóm đối tượng trên

3. Tìm hiểu những hành vi nguy cơ ảnh hưởng đến lây nhiễm HIV của người nghiện ma túy

Phương pháp nghiên cứu

+ Thời gian nghiên cứu: tháng 8 -10 nǎm 1997

+ Địa điểm nghiên cứu: tại 3 Trung tâm cai nghiện của TP.Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, Đắc Lắc.

+ Đối tượng nghiên cứu: 505 người nghiện ma túy (bao gồm 149 người nhiễm HIV, 61 bệnh nhân AIDS và 295 người nghiện chưa nhiễm HIV).

+ Phương pháp nghiên cứu: đây là nghiên cứu cắt ngang, tiến hành theo phương pháp:

. Điều tra dựa vào bảng hỏi

. Phỏng vấn sâu

. Chụp ảnh, ghi âm

. Xử lý số liệu theo chương trình SPSS

Kết quả

1. Đặc điểm xã hội học:

-Đa số là người nghiện ma tuý là nam giới chiếm 88,9%.

-60,3% tuổi trên 30, tuy nhiên tuổi trung bình của nhóm HIV(+) và bệnh nhân AIDS cao hơn nhóm HIV (-). Điều này có thể được minh họa qua bảng sau:

Đối tượng NC

HIV (+)

BN. AIDS

HIV (-)

Chung

n

X d

n

X d

n

X d

n

X d

Tuổi (nǎm)

149

36,7

7.0

61

41,4

6,2

294

29,6

10,8

504

33,7

10,6

Có sự khác nhau về độ tuổi giữa các nhóm: 60,9% nhóm nghiện ma túy (NMT) không nhiễm dưới 30 tuổi trong khi 87,9% nhóm NMT nhiễm HIV và 95,1% nhóm bệnh nhân AIDS trên 30 tuổi.

- 90,1% là dân tộc Kinh, 4,4% dân tộc Hoa, còn lại thuộc các nhóm dân tộc khác

- 60,2% theo Đạo Phật, 18% theo đạo Thiên chúa, ngoài ra không theo tôn giáo nào.

- 69,7% đối tượng NC có trình độ vǎn hóa cấp I và II.

- Đa thất nghiệp hoặc làm nghề lao động giản đơn (51,7%), 18,4% là nhân viên khách sạn-nhà hàng và 14,3% buôn bán nhỏ. Tỉ lệ học sinh, sinh viên chiếm 1,2% và cán bộ CNVC là 4,6%, ngoài ra là làm các nghề khác.

- Số lần vào trại cai nghiện trung bình từ 2-4 lần, cho thấy tỉ lệ tái nghiện cao.

- 25,3% đã có gia đình, 5,9% ly hôn và 13,9% ly thân. Tỉ lệ lập gia đình, ly hôn và ly thân khác nhau trong 3 nhóm thấy được qua bảng sau:

Đối tượng NC

Tình trạng hôn nhân

HIV (+)

Bệnh nhân AIDS

HIV (-)

Chung

n

%

n

%

n

%

n

%

Chưa lập gia đình

55

36,9

26

42,6

185

62,7

266

52,7

Đã lập gia đình

41

27,5

17

27,9

70

23,7

128

25,3

Ly thân

14

9,4

5

8,2

11

3,7

30

5,9

Ly hôn

35

23,5

12

19,7

23

7,8

70

13,9

Góa

4

2,7

1

1,6

6

2,6

11

2,2

Chung

149

29,5

61

12,1

295

58,4

505

100

- 83,9% đối tượng NC sống với gia đình và 37,8% có người thân trong nhà cũng nghiện ma túy

Hiểu biết về HIV/AIDS

- 97,6% đã nghe nói về HIV/AIDS, 61% được học ở trung tâm cai nghiện, 41% -49% biết qua đài, báo và vô tuyến.

- Đa số biết có thể phòng nhiễm qua dùng bao cao su (80,9%) và bơm kim tiêm sạch (70,6%), không nên tiêm chích ma túy (67,6%). Tỉ lệ hiểu biết về các vấn đề trên ở nhóm nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS cao hơn nhóm NMT không nhiễm HIV.

- Tự đánh giá bản thân đã bị nhiễm HIV chưa, 44,4% cho rằng họ có thể bị nhiễm. Tuy nhiên, tỉ lệ này ở nhóm HIV (+) và bệnh nhân AIDS cao hơn nhóm HIV (-). 69% người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS biết mình mắc bệnh so với tỉ lệ 26,8% cho rằng có thể bị nhiễm HIV ở nhóm âm tính.

- 69,3% biết có thể chẩn đoán nhiễm HIV bằng xét nghiệm máu

- 82% biết hiện chưa điều trị được AIDS, do vậy theo đa số đối tượng cần tǎng cường giáo dục về phòng chống AIDS trong các trung tâm cai nghiện (70,6%)

- Trên 92% cho rằng cần tư vấn, giúp đỡ người nhiễm HIV/AIDS.

- 82,3% thấy người nhiễm HIV/AIDS có thể sống với gia đình, chỉ 14,9% cho rằng cần nhốt riêng hoặc lập trung tâm dành cho họ.

Hành vi tiêm chích và tình dục

- Trong 317 người nghiện chích ma túy, thời gian dùng ma túy trung bình là 13,94 8,14 nǎm.

- Nhóm âm tính có tỉ lệ tiêm chích là 38,3%, trong khi 2 nhóm kia gần 100%.

- Hình thức bắt đầu sử dụng ma túy ban đầu là hút (68,6%) và chích (25%), cả hút + chích (6,2%). Tuy nhiên:

* Tỉ lệ hút ma túy giảm dần theo trật tự :

. Nhóm HIV (-) > BN AIDS > Nhóm HIV (+)

(77,5%) (65,6%) (54,3%)

* Tỉ lệ chích ma túy diễn ra theo chiều ngược lại

. Nhóm HIV (+) > BN AIDS > Nhóm HIV (-)

(38,3%) (26,2%) (18,1%)

- 97% nhóm nhiễm HIV/AIDS dùng thuốc phiện, 4%-6% dùng heroin trong khi tỉ lệ dùng thuốc phiện và heroin ở nhóm âm tính xấp xỉ ngang nhau (trên dưới 50%). Điều này phù hợp với tỉ lệ tiêm chích trong các nhóm.

- Nhìn chung 47,8% tiêm chích tại nhà. Tuy nhiên đáng lưu ý vẫn còn trên 21% nhóm HIV (+) và bệnh nhân AIDS tụ tập tại nhà bạn để tiêm chích làm nguy cơ nhiễm HIV trong quần thể nghiện ma túy tiếp tục gia tǎng.

- 77,9% thường tiêm chích vài lần/ngày. 45,5% tự tiêm chích.

- 57,1% có dùng chung bơm kim tiêm. Tỉ lệ này ở nhóm HIV/AIDS cao hơn nhóm âm tính (62,9% và 76,6% so với 39,7%).

- 56,3% chỉ làm sạch bơm kim tiêm bằng tráng nước sôi, có 16% luộc sôi dụng cụ trước chích. 20,6% dùng bơm kim tiêm 1 lần.

- 89,7% có quan hệ tình dục; 24,3% có quan hệ tình dục với gái mại dâm.

- Số bạn tình trung bình của đối tượng ngiên cứu là 4. Cao nhất ở nhóm HIV (+) là 6 người và thấp nhất ở nhón HIV (-) là 2 người. 2,7% có quan hệ đồng giới.

- 34,9% có dùng bao cao su và chỉ có 45,6% trong số đó dùng thường xuyên.

- Tỉ lệ dùng bao cao su khi quan hệ tình dục với gái mại dâm cao hơn (54,3%) so với vợ và bạn gái. Mục đích dùng bao cao su chủ yếu để tránh thai và phòng bệnh.

Bàn luận

+ Tuổi trung bình của đa số người nghiện ma tuý và nhiễm HIV ở phía Nam là trên 30, nhiều tuổi hơn so với nhóm đối tượng ở phía Bắc (thường dưới 30 tuổi).

+ Đặc điểm xã hội có ảnh hưởng đến hành vi nghiện ma tuý của đối tượng

. Hầu hết người nghiện ma tuý và nhiễm HIV/AIDS có trình độ vǎn hóa thấp, nghề nghiệp không ổn định và đa số là lao động giản đơn, có người thất nghiệp.

. Gia đình thường ít hạnh phúc, tỉ lệ ly hôn và ly thân khá cao.

. Trên 1/3 người có người thân trong gia đình cũng nghiện ma túy

+ Có khoảng cách lớn giữa nhận thức và hành vi của đối tượng: nhận thức về cách dự phòng nhiễm HIV cao nhưng thực hành còn thấp, thể hiện qua biểu đồ sau:

+ Người nghiện chích ma túy có nguy cơ nhiễm HIV không chỉ do tiêm chích ma túy mà còn qua quan hệ tình dục. Tỉ lệ dùng chích ma tuý và dùng chung bơm kim tiêm ở nhóm nhiễm HIV/AIDS cao hơn nhóm không nhiễm. Nhóm HIV/AIDS có số bạn tình trung bìng cao hơn nhóm âm tính, tuy tỉ lệ dùng bao cao su giữa các nhóm không khác nhau nhiều và đều thấp.

kết luận

+ Người nghiện ma túy có những đặc điểm xã hội riêng có thể liên quan đến việc nghiện ma túy của họ.

+ Còn sự chênh lệch nhiều giữa hiểu biết các biện pháp dự phòng nhiễm HIV với việc thực hành các hành vi an toàn của đối tượng NC. Có một số điểm khác nhau về hành vi giữa các nhóm nhiễm HIV/AIDS và nhóm không nhiễm. Để giúp các đối tượng này cần có những biện pháp can thiệp đặc biệt nhằm tǎng khả nǎng thực hành an toàn phòng nhiễm HIV cho họ và cộng đồng.

summary

Through the study carried out on 505 drug users, including 149 HIV positive drug users and 61 drug-use-associate AIDS patients in 3 drug treatment centres in Khanhhoa, Daklak provinces and HoChiMinh City from August to October 1997, the following conclusions have been gained :

1. The average age of study subjects is 30. There are differences in age between groups: 60.9% of HIV (-) drug users group were below 30 years old but 87.9% and 95.1% HIV (+) and AIDS groups were over 30 years old respectively. As many as 69.7% of subjects finished secondary school. Most of them were labours, doing small trade and some of them were jobless. 22% of them were reported divorced, separated and being widows/widowers. 37,8% had blood brothers who also were drug addicts. On the average, the study subjects had gone in drug treatment centers around 2 to 4 times, with the highest frequency shown among HIV/AIDS groups.

2. The rate of drug users who were aware of AIDS prevention measures was high: 70.6% knew about the need of using clean needles and syringes; 80.9% understood that condom use can help prevent HIV transmission.

3.However, safe practices were still applied at a low level : 57.1% of subjects shared injecting equipment, only 20.6% used disposable syringes; the rate of using condoms was 34.9%, of which 45.6% used condoms regularly and more condom use was reported during sexual activities with sex workers than with their wives.

Tài liệu tham khảo

1. Hoàng Thủy Nguyên, Lê Diên Hồng, Lê Ngọc Yến và cs.
Giám sát dịch tễ học tổng thể và các thử nghiệm phòng chống HIV ở Việt Nam, đề tài cấp Nhà nước mã số KY-01-12. 1995, 65-104
2. Chung á, ủy ban Quốc gia phòng chống AIDS
Những thách thức hiện nay của dịch AIDS và đáp ứng của Chính phủ Việt nam. Báo cáo tại Cuộc họp của ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội
3. y ban Quốc gia phòng chống AIDS
Báo cáo hàng tuần tình hình nhiễm HIV/AIDS của các tỉnh thành trong cả nước. 7/1997
4. Lê Ngọc Yến, Nguyễn Nǎng An, Phạm Mạnh Hùng, Nguyễn Hoàng Phương.
Một số đặc điểm miễn dịch tế bào ở những người nghiện chích ma túy
Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, Đại học y Hà nội, 1996, 4, 190-195
5. Báo cáo của Cục phòng chống tệ nạn xã hội, Bộ Lao động Thương binh Xã hội. 1997./.